LINH MỤC HÔM NAY,
ĐƯỢC ĐÓN NHẬN NHƯNG CÓ NHIỀU THÁCH ĐỐ
“Ở giữa thế gian, nhưng không thuộc về thế gian” (Ga 17,15-16)
Nhận xét này -cách chung đối với mọi Kitô hữu và cách đặc biệt dành cho các linh mục- chứa đựng vừa tính không gian (spatiality) vừa tính phẩm chất (quality). Nó cũng nói lên cách khái quát đặc tính của mọi Kitô hữu -đặc biệt hơn của các linh mục- là những con người thuộc về Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Nhận xét này không bao giờ lỗi thời và luôn rất thời sự. Ở đây, xin gói gọn để nói riêng về các linh mục. Người linh mục luôn là nhân tố năng động trong chính hiện sinh của mình và của toàn nhân loại, được thể hiện cách đặc trưng trong chính cộng đoàn mà linh mục hiện diện. Chẳng linh mục nào được phép lang thang “ngoài biên chế”, cũng chẳng một linh mục nào lười biếng đến nỗi không làm gì cho cộng đoàn, ít là cho một nhóm người nào đó. Cuộc đời linh mục, vì thế, luôn gắn chặt và vận động cách rất hữu cơ và nhịp nhàng với nhịp sống của nhân loại. Nói được là kể từ ngày thụ phong, trong trật tự và phạm vi của sứ vụ mình, linh mục bắt đầu bước vào một quỹ đạo của những hoạt động đa dạng, được định hướng trước nhưng chẳng có thể thấy trước, cho đến ngày chùn chân mỏi gối và “được nghỉ yên trong Chúa”. Đành rằng cường độ hoạt động khác nhau tùy người và cao thấp tùy thời và rằng có thể có những vấp váp vì lý do chủ quan hay khách quan, nhưng tất cả đều phải lùi lại đàng sau và ép sang hai bên lề cho lộ trình hoạt động của linh mục được khơi thông, được tiếp tục và thăng tiến.
Nhưng mỗi thời mỗi khác. Dù bản chất và vai trò của linh mục xưa nay không đổi, thì sự đón nhận linh mục của người đời trong cả sự hiện diện và hoạt động của ngài lại có những đổi thay. Không đặt linh mục chỉ trong tương quan với giáo dân Công giáo, mà với xã hội cách chung, xin chia sẻ vài cảm nhận cá nhân về sự đón nhận và về những thách đố của linh mục trong xã hội hôm nay.
1. Linh mục được đón nhận như thế nào trong xã hội ngày nay?
Câu trả lời ngắn gọn nhất là “con người vẫn cần linh mục cũng như sẽ mãi mãi cần các linh mục”. Có trả lời một cách chắc nịch như thế cũng không sợ quá đáng và một chiều. Nhiều lý do và lý chứng minh họa cách sống động cho lập luận này. Ở đây, xin chỉ nêu ba khía cạnh.
Trước hết, linh mục được đón nhận và quý trọng vì các ngài như cầu nối giữa con người với Đấng Tuyệt Đối. Ngay trong bản chất làm người, không ai lại không muốn vươn cao trong đời sống tinh thần. Có khi, vì những lý do khác nhau, nhiều người không hay chưa dám phát biểu hoặc thể hiện ra bên ngoài khát vọng sâu lắng trong lòng, nhưng họ sẽ không bao giờ rũ bỏ được những điều thuộc về bản chất người vốn “ư vạn vật” trong chính nỗi khắc khoải hướng về tuyệt đối.
Linh mục cũng chỉ là người, không phải là Đấng Tuyệt Đối. Nhưng linh mục, nhờ thiên chức lãnh nhận, lại có nơi mình hình bóng và lời khẳng định hùng hồn về sự hiện diện của Đấng ấy. Hơn nữa, linh mục, do sứ vụ của mình, lại có khả năng và trách nhiệm hướng dẫn tha nhân về với Đấng Tuyệt Đối. Bề ngoài, linh mục chẳng luôn trỗi vượt người khác. Kiến thức, linh mục chẳng có đủ để so sánh với các bậc chuyên gia. Tài năng, linh mục không phải là nghệ sĩ để thỏa mãn thị hiếu của những kẻ tò mò. Nhưng linh mục có nơi mình điều người khác cần, dù họ thuộc bất cứ niềm tin nào hay thậm chí vô tín. Điều đó, như vừa nói, là vì ngài sở hữu lời khẳng định chắc chắn về sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng vừa là khát vọng vừa có thể thỏa mãn nỗi khát vọng của mọi người. Người đời đón nhận và yêu quý các linh mục trước hết và trên hết là ở điểm này.
Thứ đến, linh mục được đón nhận trong chính sự dấn thân phục vụ mà các ngài cống hiến vô vị lợi cho tha nhân. Trong các tổ chức xã hội, chẳng thấy ai dám sống và làm việc cho ra vóc dáng của một “đầy tớ nhân dân” cả. Vì tôi làm đầy tớ anh thì ai làm đầy tớ tôi?! Rất dễ hiểu khi đó chỉ là những cách nói đã trở thành những motif quen thuộc hay khẩu hiệu sáo rỗng, còn thực tế thì ngược lại, vì cấu trúc và vận hành của xã hội không thể có điều đó. Nó là lý tưởng không tưởng. Cần thông cảm khi thấy lý tưởng ấy chỉ là vỏ bọc, rất dễ vỡ nhưng có còn hơn không. Đó là xã hội trần thế. Và tất cả chỉ là thế. Mỗi nơi mỗi kiểu, rất khó để nói được chỗ này hơn chỗ kia.
Người linh mục dấn thân cho sứ mạng phục vụ tha nhân theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu, Đấng “đến để phục vụ chứ không để được người ta phục vụ” (Mt 20,28). Dù không tránh được những trường hợp đây đó sứ mạng này bị cá tính hay tham vọng cá nhân che khuất, nhưng không ai dám phủ nhận sự hy sinh và phục vụ của các linh mục trong những nơi, những cộng đoàn và trong những lãnh vực các ngài được sai đến. Do dám hy sinh cuộc đời cho tha nhân, mà cả khi có yếu kém hay lầm lỗi, các ngài vẫn là những bằng chứng đủ sức thuyết phục và sưởi ấm lòng người về sự kỷ xả cần thiết cho cuộc nhân sinh mà các ngài làm được trong khi những người khác chịu thua. Nơi linh mục, có sự phục vụ vô vị lợi đích thật.
Cuối cùng, linh mục được đón nhận, vị nể và yêu mến vì các ngài đáng tin cậy. Tính đáng tin cậy ở người linh mục không chỉ thuộc giới hạn của nhân cách, mà còn nằm trong căn tính và bản chất của thiên chức. Ngoài những gì thiêng thánh của bí tích Hòa Giải mà linh mục được ủy thác qua năng quyền vẫn cử hành để ban ơn tha thứ và giao hòa cho giáo dân, linh mục còn là chỗ dựa tinh thần cho người gặp đau khổ, là nhà hướng đạo cho ai gặp bế tắc, là trung gian hòa giải và khuyên can, là cầu nối giữa người giàu và người nghèo trong các hoạt động từ thiện.v.v. Tất cả những điều này chỉ có thể thực hiện cách hữu hiệu và đáng tin cậy khi có được những con người đáng tin cậy, mà đứng đầu phải là các linh mục. Các linh mục luôn được kể như đối tượng số một để mọi người “chọn mặt gởi vàng”. Tính đáng tin cậy của người linh mục làm cho linh mục trở nên người của mọi người.
Tóm lại, người linh mục luôn được đa số người đời đón nhận cách chân tình và rộng mở. Các ngài đã trở nên một thành phần không thể thiếu của xã hội loài người. Mừng thay là Chúa vẫn ban cho nhân loại những linh mục.
Nhưng nói xuôi cũng cần nói ngược, liệu người linh mục có luôn gặp muôn sự êm xuôi hay đang có những thách đố? Ta đi qua phần hai.
2. Những thách đố của linh mục thời nay.
Trong xã hội chúng ta, người linh mục phải đối diện với không ít những khó khăn và thách đố. Ai sống lâu trong đời linh mục, sẽ thấy được nhiều hơn những khó khăn và thách đố. Ở đây, chỉ xin nêu ba khó khăn và thách đố xem ra trái ngược với ba lý do đón nhận vừa nói ở trên.
Khó khăn và thách đố đầu tiên cần phải kể ra chính là khát vọng về tuyệt đối nơi con người ngày nay đang bị điều khiển cho lệch hướng. Ai điều khiển, điều khiển bằng gì và đã làm cho lệch hướng đến đâu là những vấn đề không dám giải đáp trọn vẹn trong bài này, cần tìm hiểu thêm ở thực tế cuộc sống. Ở đây, chỉ xin nêu lên những điều chung nhất mà thôi.
Ngày nay, chẳng ai dám phủ nhận cách trắng trợn sự hiện hữu của Thiên Chúa và của nỗi khát vọng sâu xa trong tâm hồn con người. Nhưng biến Thiên Chúa thành thừa thãi, không cần thiết nữa, cũng như chế ra những cách thỏa mãn giả tạo khát vọng nơi tâm hồn thì lại là điểm mạnh của những người được giao cho nhiệm vụ coi sóc xã hội. Cuộc giằng co giữa một bên là sứ mạng của linh mục trong việc lôi kéo con người đến với Thiên Chúa để con người được Thiên Chúa cho no thỏa tấm lòng, với bên kia là cố gắng đẩy con người ra xa Thiên Chúa bằng những phương thức thế tục, sẽ không kết cục bằng thất bại của linh mục, nhưng sẽ là mối đe dọa cho ý chí của các ngài. Một khi con người bị lôi ra khỏi Thiên Chúa và tự thỏa mãn khát vọng của mình bằng trí khôn nhân loại, thì liệu con người còn cần đến vai trò của linh mục như cầu nối giữa họ với Thiên Chúa nữa hay không? Thiên Chúa vô hình còn trở nên thừa thãi, phương chi linh mục là những con người sờ sờ trong xã hội. Không ít người tìm cách làm cho người khác nói với các linh mục rằng “chúng tôi không còn cần các ông”, hoặc nữa: “Các anh là đồ ăn hại”!
Khó khăn và thách đố thứ hai chính là sự cô lập hóa phạm vi phục vụ của linh mục. Khi nỗ lực đánh đuổi Thiên Chúa không thể thành công, thì người ta tìm cách đóng khung Thiên Chúa lại. Thiên Chúa hay niềm tin vào Người chỉ còn là chuyện cá nhân, không phải là bận tâm chung của xã hội. Đóng khung Thiên Chúa thì không thể làm được, họ bèn cô lập hóa những người tin vào Người và những ai phục vụ nhân danh Người. Chính trong bối cảnh này mà người ta đã vạch ra một biên giới rạch ròi giữa thế quyền với thần quyền, giữa tôn giáo với xã hội. Người phục vụ thuộc về các tôn giáo nói chung và các linh mục nói riêng, đều phải lệ thuộc những quy định ở mọi mức của xã hội. Dù là phục vụ nhu cầu tâm linh hay hoạt động bác ái từ thiện, họ đều phải có sự đồng ý của thế quyền. Đòi hỏi này không xấu, nhưng không cần thiết vì các ngài chẳng bao giờ làm sai điều gì. Nhưng vì muốn áp đặt quyền lực trên linh mục và “bó giò” linh mục được càng nhiều càng tốt mà người ta đã làm như thế. Điều này chẳng làm hại gì được các linh mục, nhưng lại làm cho các ngài khó khăn trong việc phát huy hết khả năng phục vụ, và do đó, làm hại cộng đồng xã hội.
Người ta còn tìm cách đánh đồng giữa hai sự phục vụ, một của các linh mục và một của các quan chức thế tục. Họ dám cho là như nhau. Nhưng sự khác biệt căn bản của hai việc phục vụ, có lẽ, họ chưa khám phá ra. Nó nằm ở chỗ: linh mục coi con người là mục đích cho đời phục vụ, trong khi đại diện những thế lực trần thế chỉ coi con người là phương tiện mà thôi.
Khó khăn cuối cùng chính là sự thiếu hiểu biết hay quan niệm sai về linh mục. Quan niệm sai vì nhiều lý do, có thể phân ra thành hai nhóm khách quan và chủ quan. Khách quan là vì chưa biết do không được dạy dỗ, hoặc biết sai do dạy dỗ sai; cũng có thể do chưa được gặp gỡ và tiếp xúc với các linh mục, mà nhiều người chẳng biết linh mục là ai và có để làm gì. Chủ quan vì đố kỵ, yếu niềm tin hoặc có ác cảm cá nhân, quyền lợi phe nhóm…
Thật vậy, khi nền giáo dục chẳng đá động gì đến thiên chức linh mục, các cơ quan truyền thông tìm cách nói sai và kết án linh mục, mọi cơ cấu xã hội chỉ nhìn nhận và đối xử với các linh mục như những công dân bình thường… thì một bộ phận rất lớn giới trẻ đã thiếu hiểu biết về linh mục và nghĩ sai về linh mục. Tính đáng tín nhiệm của linh mục đang hoặc bị khai trừ hoặc bị làm tổn thương. Chức linh mục được lập vì toàn thể cộng đồng nhân loại, nên cần phải cho mọi người biết đến. Có hai “kỷ niệm” nhớ đời, xin viết lại.
Có lần đang dùng cơm trưa thì có hai thanh niên xuất hiện trước cửa nhà xứ. Họ đường đột chạy vào bàn cơm và tự động ngồi xuống, rồi nhanh nhảu tự giới thiệu: “Thưa bác, chúng cháu thuộc Đoàn Thanh Niên từ Thanh Hóa vào bán đũa và hàng lưu niệm, lấy tiền về cho trại mồ côi. Chúng cháu muốn bác mua cho một ít ạ”. Sau khi nói chuyện một chút và mua cho họ hai bó đũa, tôi hỏi họ là đã vào chùa Quãng Thắng (gần nhà thờ) để bán chưa. Họ trả lời: “Chúng cháu vào rồi. Các bác ở đấy vui tính và mua nhiều lắm ạ”. Tôi lấy làm lạ về cách xưng hô, càng lấy làm lạ về kiến thức tôn giáo của họ. Tôi là linh mục ở nhà thờ, chỉ đáng tuổi anh của họ; còn Chùa Quảng Thắng là của các ni cô!
Lần kia nữa phải vào một bệnh viện đa khoa để làm thủ tục cho ba tôi được giải phẫu, vì tôi là con trai cả. Trước khi đặt bút kí vào bản cam kết ưng thuận giải phẫu, tôi được một bác sĩ thẩm vấn ba lần cùng một câu hỏi: “Vợ con anh đâu?”. Lần thứ nhất và thứ hai, tôi đều trả lời “Thưa bác sĩ, tôi là linh mục”. Nhưng rồi vị này lại gằn giọng lặp lại lần thứ ba: “Tôi hỏi vợ con anh đâu?”. Đang nóng cả ruột vì cơn đau dường như hấp hối của ba tôi, lại tự ái vì nghĩ tay bác sĩ đang “đá giò lái”, tôi đành trả lời: “Vợ con tôi thì liên quan gì đến việc mấy ông mổ bụng ba tôi? Mà chẳng lẽ câu trả lời của tôi đến hai lần mà bác sĩ vẫn chưa hiểu. Linh mục Công giáo sống độc thân thì không có vợ. Đơn giản thế lẽ nào làm bác sĩ mà không biết”. Ông ta vội bỏ ra ngoài. Mấy cô y tá bụm miệng cười, bảo tôi: “Ông ta là bác sĩ, nhưng chỉ là bác sĩ hành chánh, không biết gì đâu, linh mục thông cảm”. Sau đó nghĩ lại, tôi thấy thương nhiều hơn là trách vị bác sĩ ấy.
Xin kết:
“Linh mục là chính Chúa trong kiếp người…”. Lời ca này có lẽ thích hợp để kết thúc những suy nghĩ về ngày nay linh mục được đón nhận và phải đối mặt với những thách đố như thế nào. Những suy nghĩ hãy còn rất thô ráp và thiển cận.
Thuộc về số những người vinh phúc được sống đời linh mục và cũng đã có những suy nghĩ riêng cho hành trình cuộc đời của bản thân trong Năm Hồng Phúc này, xin mạo muội chia sẻ một trong những suy tư nhân ngày Bế Mạc của Năm Linh mục.
Năm Linh mục đã trôi qua, để lại muôn vàn ích lợi thiêng liêng cho cá nhân từng linh mục, cho toàn thể linh mục đoàn và cho cả Giáo Hội. Theo Cha Eric Poinsot, Giám Đốc Ủy Ban quốc gia về ơn gọi của Giáo Hội Pháp, thì “Các linh mục và giáo dân sống trong niềm vui trong suốt năm và được mời gọi tái khám phá cũng như làm sống lại ý thức về quà tặng ân sủng mà thừa tác vụ linh mục mang lại”. Cảm tạ Chúa đã gợi hứng cho vị Cha Chung để người lập ra Năm Linh mục, một thời gian ân phúc cho các linh mục của Giáo Hội đang sống và đang phục vụ trong khắp mọi miền của địa cầu.
Ắt hẳn mỗi linh mục đều đã có những suy tư, những sám hối và những quyết tâm cho riêng mình. Xin Chúa chúc lành cho các Cha trong cuộc đời dâng hiến để phụng sự Chúa, phục vụ tha nhân và cứu rỗi các linh hồn.
Dù có khó khăn và thách đố đến mấy, linh mục vẫn được đón nhận và phải hiện diện cho nhân loại và vì nhân loại.
Xin Cha Thánh Gioan Maria Vianey, Bổn Mạng của mọi linh mục, chúc lành và đồng hành với chúng ta.
Giáo xứ Thánh-Giuse, lễ Vọng Thánh Tâm Chúa Kitô 2010
Linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Hồng Uy