|
|
|
Loading
|
 |
Các giáo hạt » Phan Thiết |
|

Thông tin các giáo xứ trong giáo hạt đang cập nhật lại. thông tin này chỉ đúng đến thời điểm năm 2000
|
|
|

GIÁO XỨ THANH HẢI
Sau hiệp định Giơnevơ, theo dòng người vào Nam, người dân Ba Làng, Sầm Sơn (Thanh Hóa) cùng với một số người gốc An Bình (Quảng Bình) và Đông Xuyên (Kiến An) đã đến định cư lập nghiệp tại vùng Xóm Đầm, lập nên giáo xứ Thanh Hải, Phan Thiết.
Ban đầu có 60 gia đình An Bình và 30 gia đình Sầm Sơn, họ về đây cùng với Cha Phaolô Phạm Ngọc (nguyên Cha xứ Sầm Sơn Thanh Hóa). Ngài đến đây để giúp họ dâng thánh lễ và ban các bí tích. Nhưng khi lập nên trại định cư Xóm Đầm là Cha Augustinô Phạm Ngọc Oanh và khi lập xứ thì Cha Augustinô làm cha chính xứ tiên khởi (1955-1971).
Phó xứ và phụ tá cho Ngài có các Cha:
Cha Fx. Hoàng Kim Điền 1955-1961
Cha Giuse Nguyễn Văn Trọng 1955-1957
Cha Rôcô Đinh Tuấn Ngạn 1956-1958
Cha Rôcô Đinh Hữu Phương 1958-1967
Cha Giuse Trịnh Quang Cảnh 1961-1967
Cha Gioan Vũ Anh Tuấn 1962-1967
Cha Giuse Nguyễn Quang Huy 1967-1969
Cha Giuse Bùi Ngọc Báu 1967-1969
Cha Giuse Mai Nghị Luận 1969-1970
Cha Antôn Vũ Ngọc Đăng 1970-1971
Cha Phêrô Trần Hữu Thành 1971-1973
Năm 1971, Cha Augustinô về xứ Thánh Mẫu
Cha Nguyễn Quang Huy về làm chính xứ (1971-1975) và Cha Phêrô Trần Văn Tiến làm phụ tá.
Tháng 03.1975, Cha Rôcô Vũ Đình Hoạt làm chính xứ.
Thời gian này là lúc phát triển và xây dựng giáo xứ về nhiều mặt: Thánh Đường, trường học, nhà Hội quán, dòng Mến Thánh Gía, nhà xứ. Thánh đường tường xây, mái lợp tole, rộng rãi, thoáng mát. Nhà trường có hai dãy, tường gạch, lợp tole có các lớp từ mẫu giáo đến lớp 9. Năm 1974 được mở thêm cấp III, số học sinh trên 1500 em. Nhà hội quán rộng rãi, khang trang là nơi sinh hoạt cho các đoàn thể và các giới. Thời gian này việc học giáo lý, kinh bổn rất được các Cha quan tâm, ngoài ra các ngài còn hướng dẫn giáo dân thêm về ngư nghiệp.
Sau năm 1975, giáo xứ gặp nhiều khó khăn, nhất là về mặt nhân sự: số khá đông ra nước ngoài, một số đi kinh tế mới, một số chuyển nơi ở. Lúc này, các Cha đã cố gắng rất nhiều để duy trì sinh hoạt tôn giáo gồm có các Cha:
Antôn Vũ Ngọc Đăng 1975-1980
Và cha phó Anphong Nguyễn Công Vinh 1975-1980
Năm 1980, Cha Đăng bị đem đi cải tạo, nhà thờ Thanh Hải bị đóng cửa (1980-1988). Cha quyền chính xứ Nguyễn Công Vinh chỉ được cử hành Thánh lễ ở nhà thờ Vinh Thủy (cách đó khoảng 1Km). Giáo dân phải tham dự Thánh lễ Chúa nhật tại nhà thờ Chánh Tòa vì nhà thờ Vinh Thủy quá nhỏ hẹp. Và tới năm 1988, nhà thờ được phép mở cửa lại.
Cha JB. Vũ Đình Hiên 1988-1992
Cha phó Phêrô Nguyễn Văn Tiến 1988-1991
Cha phó JB. Trần Văn Thuyết 15.08.1991-1992
Thời gian này các ngài lo sửa chữa lại Thánh đường đã quá mục nát, vận động để xây lại Thánh đường mới, củng cố lại các ngành, các giới và thêm một giáo họ nữa ra đời là Thanh Tân.
Ngày 18.08.1992, cha Thuyết là Quyền Chính xứ cho xây móng nhà thờ mới và tới ngày 09.08.1993, nhà thờ được thánh hiến bởi Đức Cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi, đồng tế với ngài có Đức Cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm, giáo phận Đà Lạt. Nhà xứ, nhà hội quán cũng được sửa chữa lại sau đó vài tháng.
Cha F.Assisi Nguyễn Đức Quang 1999…
Và cha phó Antôn Pađua Nguyễn Kiến Tú 1998…
Về ơn gọi, hơn 40 năm qua giáo xứ đã đóng góp cho Giáo Hội 16 linh mục, 4 thầy giảng, 5 chủng sinh, 17 nữ tu và 10 em tập sinh.
Hiện nay giáo xứ có 8 giáo họ với số giáo dân là 5936, đa số tham gia trong các Hội đoàn: Gia Trưởng, Bà Mẹ Công Giáo, thanh niên, thiếu nhi, Giáo lý viên, Legio, Phan sinh. Cùng cộng tác với cha xứ có HĐMV. Gồm 40 vị. Giáo xứ thường xuyên có lớp dự tòng và có lớp dự bị hôn nhân được tổ chức hằng năm. Ngoài ra còn có một ban khuyến học gồm 5 người, số học sinh hiện nay khoảng 3000 em ở mọi trình độ từ mẫu giáo cho tới đại học.
Về mặt xã hội, giáo dân Thanh Hải luôn cộng tác với chính quyền, nỗ lực xây dựng phường Thanh Hải (gồm 90 % là giáo dân) ngày một tốt đẹp hơn. Hằng năm vào dịp Noel và Tết Nguyên đán, HĐMV thường đi ủy lạo và thăm viếng những gia đình nghèo khó, neo đơn, bệnh tật…
Với 45 tuổi đời, Thanh Hải là giáo xứ có nhiều tiềm năng về nhân lực và cơ sở, hy vọng giáo xứ Thanh Hải sẽ tiến mạnh trên đường phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân, hầu làm sáng danh Chúa và góp phần tích cực xây dựng giáo phận ngày một tốt đẹp hơn.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
THANH HẢI - PHAN THIẾT - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.811501 |
| Năm thành lập: |
|
(1955) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(5936) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI (15/08)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ PHÚ HÀI
Theo tài liệu của Đức Cha Bennetat đã ghi lại trong cuốn Nam Kỳ Địa Phận năm 1972: họ đạo Phú Hài (còn gọi Phó Hài) được thành lập với họ Phan Thiết (Lạc Đạo) vào năm 1890 do linh mục Thừa Sai Paris là Archimbaud. Đa số là giáo dân Quảng Bình tới lập cư chuyên nghề chài lưới và làm nước mắm. Vào năm 1910, số giáo dân Phú Hài là 200 người.
Từ năm 1890- 1955, các linh mục trực tiếp cai quản : cha Archimbaud (1890), cha Phêrô Nguyễn Văn Ngôn (1922) (tên ngài còn khắc trên quả chuông), cha Giuse Nguyễn Văn Thơ (đã qua đời, được chôn cất tại Phú Hài). Kể từ 1955-1996 : họ Phú Hài trực thuộc giáo xứ Thanh Hải do các linh mục chánh xứ, phó xứ thay phiên đảm trách.
Về cơ sở vật chất : 1890, nhà thờ xây dựng tạm bằng lá, cột cây, vách bùn... Đến năm 1922, nhà thờ được xây lại vững chắc hơn, kèm theo nhà xứ, nhà trường có Dì Phước dạy học.
Đến 1954, các cơ sở bị thiêu huỷ vì chiến tranh. Giáo dân họ Phú Hài gánh chịu đau thương, dìu dắt nhau đến họ Kim Ngọc hoặc Lạc Đạo để tham dự thánh lễ. Vào năm 1955, họ đạo trùng tu lại một nhà nguyện lợp tôn, tường gạch, để làm nơi thờ phượng cho giáo dân là 300.
Năm 1975, Đất Nước thống nhất, nhà nguyện bị niêm phong cho đến 1985 mới được sinh hoạt tôn giáo bình thường.
Năm 1991, trước tình hình đổi mới của Đất Nước. Họ đạo Phú Hài khởi công xây dựng nhà thờ mới ngày 29-7-1991, và đã được Đức Cha Nicolas bổ nhiệm cha Augustinô Nguyễn Văn Lạc chánh thức quản xứ Phú Hài với số giáo dân 510 người. Cha xứ cùng với giáo dân, đặt trọng tâm vào các gia đình chưa hợp thức hoá hôn phối, qui tụ Gia trưởng, Bà mẹ, Giới trẻ, Thiếu nhi để củng cố đức tin và lành mạnh hoá môi trường xã hội. Kết quả từ 1997-2000, 30 đôi được hợp thức hoá hôn phối và rửa tội cho số người lớn, trẻ em được 220 người. Số giáo dân hiện nay là 730 người. Giáo xứ Phú Hài đã đóp góp cho Giáo Hội 2 tu sĩ.
Riêng về mặt văn hoá, lâu nay trình độ trung bình chỉ ở cấp tiểu học, những năm gần đây, số học sinh cấp trung học gia tăng. Đối với công tác xã hội, giáo xứ thường xuyên quan tâm giúp đỡ người già yếu, tật nguyền, neo đơn...
Về phương diện kinh tế : một giáo xứ ven biển sinh sống chủ yếu bằng lao động biển, làm muối, làm nước mắm và các nghề phụ buôn bán nhỏ. Mức sống tạm ổn...
Hướng về tương lai : giáo xứ Phú Hài nỗ lực đẩy mạnh công cuộc truyền giáo, vì địa bàn giáo xứ rộng từ cầu Ké đến đá ông Địa, dân số ước chừng 10.000 người, mà số người tin Chúa còn quá ít.
Phương thức truyền giáo : mỗi giáo dân là một chứng nhân mẫu về đức tin giữa lòng đời.
"Phú Hài soi bóng biển xanh
Mẹ ơi gìn giữ ủi an chiên lành ".
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
PHÚ HÀI - PHAN THIẾT - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.811642 |
| Năm thành lập: |
|
(1890) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(730) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH PHÊRÔ (29/06)(ngaylemung) |
|
|
|
GIÁO XỨ MŨI NÉ
Về lược sử giáo xứ Mũi Né, xin được lược trích từ tập kỷ yếu của Giáo phận Nha trang, năm 1972 như sau :
Họ Mũi Né được thành lập vào khoảng cuối thế kỷ thứ XIX, chừng năm 1890. Đầu tiên, để tránh nạn Văn Thân và vì lý do kinh tế, một số người gốc Bình Định và Quảng Bình đã đến đây định cư sinh sống. Do nhu cầu đức tin, một nhà thờ nhỏ bằng tranh được dựng lên tại Xóm Lở (Khánh Thiện). Năm 1913 một hoả hoạn bất ngờ đã tiêu hủy nhà thờ Thánh Antôn này. Năm 1921-1925 cố Thơm cho xây cất một ngôi nhà thờ nhỏ tại ấp Long Linh thay thế ngôi Nhà thờ Xóm Lở bị cháy. Trong thời gian (1910-1950) các cha sở Kim Ngọc kiêm nhiệm Họ Mũi Né. Đời Cha Hớn (1938...) ngài đã cho xây dựng một ngôi nhà thờ mới. Năm 1951, Đức Cha bổ nhiệm Cha Huỳnh Kim Đức về làm cha sở Mũi Né. Năm 1953, Cha Hồ Thiện Tri về thay Cha Đức. Năm 1957, Cha Trần Đa Minh được cử đến làm Cha sở Mũi Né. Ngài đã tu bổ khu Thánh Đường, vì số giáo dân, kể cả Rạng lên tới hơn 700, Ngài đã nối dài, lợp và sơn phết lại nhà cùng xây thành chung quanh. Để thúc đẩy giáo dân thêm lòng tôn kính Đức Mẹ, ngài đã khởi công xây dựng núi Đức Mẹ Lộ Đức. Tháng 07 năm 1971 vì tuổi già sức yếu Cha Trần Đa Minh được phép Đức Giám Mục cho về hưu và linh mục GB. Vũ Văn Tiến được bổ nhiệm về thay thế. Sau đó là cha GB. Cao Vĩnh Phan rồi đến cha Phêrô Đinh Đình Chiến. Hiện nay linh mục quản xứ là Cha Phaolô Nguyễn Văn Ngụ.
Mũi Né thuở nào còn là một miền đất hẻo lánh, đi lại khó khăn, giờ đây lại là điểm du lịch nổi tiếng, thu hút nhiều du khách tới đây nghỉ ngơi và tham quan thắng cảnh. Mũi né không còn là nơi xa lạ nữa mà đã trở nên thân quen với biết bao người muốn về đây làm bạn với cát biển gió trăng.
Thể hiện tinh thần mục tử, Đức Cha Nicôla vẫn luôn quan tâm tới nhu cầu mục vụ cho du khách tại đây. Ước mơ với một tương lai gần, Họ Rạng sẽ là điểm hẹn cho những ai muốn được bồi dưỡng cả thể xác lẫn tinh thần.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
MŨI NÉ - PHAN THIẾT - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.848145 |
| Năm thành lập: |
|
(1890) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1527) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ (29/06)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ: MA LÂM
Giáo xứ Ma Lâm, thuộc Thị trấn Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết 16 Km phía Tây Bắc trên quốc lộ 28 nối liền Phan Thiết - Di Linh.
Trước 1954, khu vực này có khoảng 20 gia đình giáo dân vốn là họ lẻ của Tầm Hưng với tên gọi Ma Lâm, là tên của một xóm cư dân sống xung quanh ga xe lửa có cùng tên. Tháng 12 năm 1954, một số gia đình binh sĩ Pháp từ Hải Phòng đã đến cư trú và kéo theo bà con thân thuộc từ Hưng Yên di cư, lập thành ấp Phương Lạc.
Trước 1976, an ninh bị đe dọa, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp thường xuyên gặp khó khăn, làm cho xứ đạo Ma Lâm tưởng chừng như phải di dời. Nhưng sau 1975, nhờ nguồn nước Hồ sông Quao (cách Ma Lâm 10 Km), nông nghiệp ổn định, giáo xứ đang cùng phát triển với Thị trấn Ma Lâm (thành lập năm 1999). Ma Lâm đã trải qua 4 đời cha xứ: cha Giuse Hoàng Công Độ, OP (12.1954 - 12.1955), cha Isodore Bùi Thái Học (12.1955 - 03.1975), cha Phêrô Nguyễn Thiên Cung (5.1975 - 10.1994), cha Gioan NguyễnVăn Hảo (10.1994...).
Ma Lâm đã góp cho Giáo hội 2 linh mục, 1 chủng sinh và 2 nữ tu.
Năm 1975, số giáo dân Ma Lâm khoảng 700 người (KYNT.1 973). Cuối 1979, phong trào kinh tế mới làm cho vùng bắc Ma Lâm, với tình trạng vốn đất rộng người thưa, phải tiếp nhận rất đông đồng bào từ nhiều nơi đến lập nghiệp. Chủ yếu làm ruộng rẫy tại các xã Thuận Minh, Hàm Phú, Hàm Trí, Thuận Hòa, Hồng Sơn, Hồng Liêm, Đông Tiến, Đông Giang và La Dạ, hầu hết là các xã miền núi; giáp với khu vực Bàu Sen thuộc huyện Bắc Bình (cách Ma Lâm gần 80 Km phía Tây Bắc)
Đặc biệt khu vực Đami (thuộc xã La Dạ), nơi đang xây dựng đập thủy điện Đami - Hàm Thuận có tầm cỡ lớn nhất nước, đã thu hút giáo dân từ Đồng Nai, Nam Định... đến làm ăn sinh sống với trên 200 gia đình giáo dân.
Với tổng số giáo dân hiện nay khoảng 4700 người, trên một địa bàn quá rộng lớn, lại phải trãi qua một thời gian ít được quan tâm, giáo xứ Ma Lâm đang đứng trước trách nhiệm nặng nề về tái truyền giáo và tái ổn định.
Khu vực trung tâm với giáo họ Phương Lạc. Nơi đây, ngôi nhà thờ thứ tư đã được hoàn chỉnh vào năm 1993, qua năm 1995, nhà xứ, nhà giáo lý, khuôn viên nhà thờ được quy hoạch lại cho phù hợp với các sinh hoạt của một khu vực trung tâm.
Tại đây, các cơ cấu giáo xứ đã hoàn chỉnh gồm lực lượng nhân sự với 6 vị Hội đồng Mục vụ giáo xứ, các đoàn thể như : Legio, các Bà Mẹ, Gia Trưởng, Thiếu Nhi,...
Ngoài ra, giáo họ Hồng Liêm đã hoàn tất việc xây dựng nhà nguyện với sự hiện diện thường xuyên của thầy Gioan Baotixita Bùi Đình Thân, nơi đây có sẵn 1200 giáo dân, một địa bàn truyền giáo lớn với giáo xứ Long Hoa cũ (đã quên mình là người có đạo) và một số lượng lương dân đông đảo.
Giáo họ Cà Tang đang xin phép xây dựng nhà nguyện, với số giáo dân khoảng 700 người mà công tác truyền giáo và tái truyền giáo rất nặng nề.
Khu vực Đami (cách Ma Lâm 50km) - Hàm Thuận (cách Ma Lâm 77km) vừa được phát hiện với số giáo dân có sẵn trên 2000 người, đây là một địa bàn truyền giáo rộng lớn, trong đó người dân tộc K‚Ho. Raglây chiếm đa số, một số trong đó vốn là giáo dân từ giáo phận Đà Lạt đến lập nghiệp.
Giáo xứ Ma Lâm trên bình diện tổng thể đang đứng trước nhiều đòi hỏi của việc đầu tư xây dựng: từ các phương tiện vật chất đến lực lượng nhân sự cho việc mở mang nước Chúa. Hy vọng với ân sủng của Năm Thánh 2000, mọi thành phần dân Chúa trong địa bàn giáo xứ quá rộng lớn này sẽ ý thức hơn vai trò truyền giáo và sống chứng tá của mình cũng như sự hỗ trợ của nhiều thành phần dân Chúa khắp nơi và của mọi cấp Hữu Quan sẽ là nguồn sinh lực mới cho vùng đất tiếp giáp của 3 giáo hạt (Phan Thiết - Đức Tánh – Bắc Tuy) và của 2 giáo phận (Đà Lạt và Phan Thiết).
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
MA LÂM - HÀM THUẬN BẮC - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.865112 |
| Năm thành lập: |
|
(1954) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(4700) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ MÂN CÔI (07/10)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ: KIM NGỌC
Theo báo cáo của Đức Cha Bennetat, Giám quản Tông tòa Đàng Trong, năm 1748:"Dưới thời vua Chàm ... cách cửa biển Phan Thiết về phía Bắc chừng hai giờ đi đường có một nhà thờ ...nơi làng Ô-xâng". Cha Giuse Bổn (mất 1911) cho nhà thờ đó là Kim Ngọc, vì tại Kim Ngọc có địa danh Ô-xâng", nơi từ lâu đã có tín hữu. Cũng theo Đức Cha Bennetat, năm 1783, Kim Ngọc đã có 3000 tín hữu và một nhà nguyện.
Mặc dầu chưa rõ danh xưng "Kim Ngọc" có từ bao giờ nhưng trong địa bạ triều Nguyễn thì "Kim Ngọc " xã có 05 thôn người Kinh và 03 thôn người Chàm.
Khi Đức Cha Pigneau de Béhaine tháp tùng vua Gia Long đến Phan Thiết, vua muốn gặp cộng đoàn Tầm Hưng và Kim Ngọc, nhưng Đức Cha từ chối. Thời Minh Mạng, nhà nguyện bị phá, nhưng giáo dân vẫn đọc kinh tại nhà ông trùm Yên và ông trùm Xiên. Thời Thiệu Trị, nhà thờ được xây lại tại vườn Xoài Rậm nay thuộc Xóm Gò, giáo họ Gioan. Thời Tự Đức khoảng 100 người Tầm Hưng và Kim Ngọc bị bắt giải ra Phan Rang, cùng với 11 phụ nữ tử đạo có một giáo dân Kim Ngọc tử đạo là ông Quới ( cha Ô.biện Núi, sinh ra ông nội của Lm Trương Trãi). Nhờ cha Tho và Cha Khâm can thiệp nên cuộc bách hại lắng dịu. Sau thời Phân Tháp, cha Tho tái lập các họ đạo. Tại Kim Ngọc, Ngài mua nếp nhà của biện Nhuận về cất nhà thờ trên đất ông trùm Xiên. Vì thường xuyên bị xách nhiễu, các làng công giáo được tách ra khỏi làng lương dân gọi là Bạch Hộ (các hộ công giáo này phải đóng thuế đặc biệt bằng bông vải). Cha Vân xây nhà thờ bằng gạch và vôi tại Xóm Gò (hiện nay là khu nhà ông Ngô Ve). Thời Văn Thân, năm 1884, dự án Văn Thân gây bạo loạn giết người công giáo nhưng không thành, sau đó tiếp tục tàn phá khắp nơi khiến giáo dân Kim Ngọc và Tầm Hưng phải chạy vào Bà Rịa và Sài gòn một năm rưỡi. Giáo xứ bị tàn phá bình địa, nhà thờ tạm sau đó được cất ở địa điểm sau nhà bà Ngô thị Kết (giáo họ Matthêu hiện nay). Nhờ Đốc Phủ Nghiêm, các cộng đoàn công giáo ở Phan Thiết đã ổn định dần. Sau hòa ước 1884, có nhiều người thuộc phong trào Văn Thân trở lại công giáo, các linh mục thừa sai và bản xứ cùng làm việc trên toàn khu vực Phan Thiết, cha quản xứ Kim Ngọc thường kiêm luôn các xứ họ lân cận và đã có các nữ tu giúp. Di tích qúy giá còn lại của thời kỳ này là hai trụ cổng vào đất Thánh Kim Ngọc, được xây gạch và vôi trên đỉnh trụ là hình búp sen chứng tỏ sự hòa nhập văn hóa.
Nhà thờ thứ tư hiện tại cất vào năm 1915 - 1918 do cha Phao lô Nguyễn thông Lý. Giáo dân rất tích cực và đoàn kết, người lương cũng cộng tác trong lúc xây nhà thờ. Thập niên bốn mươi chiến tranh Việt-Pháp, các linh mục bản xứ hầu hết có tinh thần dân tộc, yêu nước, che chở cho những người yêu nước hoặc bị hiếp đáp, oan ức. Sau hiệp định Genève, sinh hoạt giáo xứ khởi sắc, có các nữ tu MTG Thủ Thiêm hoạt động, các đoàn thể CGTH được lập lại, nhà thờ kinh lễ đông người. Năm mậu thân (1968), nhà thờ, nhà dòng và 60 nhà bị đánh sập, 07 người chết. Năm 1972, cha Nguyễn văn Học đến, ngài cho ủi phá các tàn tích chiến tranh quanh nhà thờ, sửa lại nhà xứ, chỉnh trang khuôn viên, dẹp các tệ nạn.
Danh sách linh mục ở Kim Ngọc thế kỷ 19: cha Khâm, cha Tho, cha Trang, cha Vân, cha Quêno, cha Bovin, cha Archimband và cha Bảy An.
Các linh mục quản xứ thế kỷ 20: cha JB Điện, cha Xứ, cha Giuse Bổn, cha Baré, cha Lực, cha P.Nguyễn Thông Lý, cha R.Thommeret, cha Pet. Ngôn, cha JB. Đồng, cha Pet. Nguyễn Văn Truyền, cha Pet Nguyễn Văn Long, cha Chiếu, cha Giuse Hiếu, cha Nguễn Văn Nghị, cha Nguyễn Đạo Quán, cha Michel Gervier, cha Jos Viot, cha R. Delsuc và cha Pet Nguyễn Văn Học (1972 - 1994). Cha sở hiện nay là Giuse Nguyễn Kim Anh (1994).
Từ 1975 đến nay: Sau khi đất nước thống nhất, dân chúng hầu hết làm nghề nông. Khuôn viên nhà thờ bị chiếm dụng gần 50%, ngày 20.12.1999 mới trao lại hết (trừ nhà trường). Tuy thế, đời sống đức tin vẫn vững vàng, năm 1990 nới rộng nhà thờ. Từ năm 1994, các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành được lập như Legio, Các Bà Mẹ Công Giáo, Chia Sẻ Lời Chúa, Thiếu Nhi Thánh Thể, Gia Trưởng, Thanh Niên...Về mặt xã hội, mở nhiều đường mới, đào giếng, sửa trường, diệt các tệ nạn xã hội, khuyến học, làm nhà bác ái. Về cơ sở tôn giáo, xây dựng hội trường, phòng giáo lý, chỉnh trang đồi Đức Mẹ, sân nhà thờ, công viên. Về việc quan hệ với người lương dân và các tôn giáo bạn được cải thiện. Ngày Tết, đại diện giáo dân đến các nhà tự lớn trong vùng chúc tết, thắp nhang, đại diện các nhà tự cũng đến nhà thờ giáo xứ để tham dự nghi lễ kính nhớ ông Bà Tổ Tiên. Kim Ngọc đóng góp cho Hội Thánh 01 linh mục, 01 chủng sinh, 01 nam tu, 05 nữ tu và 02 đệ tử. Số giáo lý viên: 50, Hội Đồng Mục Vụ: 19. Giáo xứ chia làm 05 giáo họ: Matthêu, Máccô, Luca, Gioan và Phaolô. Mọi giới đều học giáo lý; mỗi tuần có 03 giờ chầu Mình Thánh Chúa. Số tân tòng hằng năm: 10-15 người. Văn hóa còn thấp, sinh viên: 0,5%. Kinh tế các gia đình tạm đủ ăn, chủ yếu làm nông kèm theo buôn bán nhỏ v.v... Tỉ lệ giáo dân công giáo là 8%.
Hiện nay, số giáo dân là 1850, trong 430 gia đình, 1/4 gốc tân tòng. Giáo xứ đang chuẩn bị xây lại nhà thờ, bắc cầu qua giáo họ Phaolô. Kim Ngọc đang nỗ lực vươn lên mọi mặt, sống hài hòa, làm anh em của mọi người, qua đó loan báo Đức Ki tô cho họ.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
HÀM THẮNG - HÀM THUẬN BẮC - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.866167 |
| Năm thành lập: |
|
(1783) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1850) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ VÔNHIỄM (08/12)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ: TẦM HƯNG
Giáo xứ Tầm Hưng nằm cách thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận về phía Bắc 14 km theo quốc lộ 1A, thuộc xã Ma Lâm, huyện Hàm Thuận Bắc.
Vào khoảng năm 1650-1680, hạt giống Tin Mừng đã được gieo vãi trên mảnh đất Tầm Hưng. Và theo cha J.Masser, Hội Thừa Sai Paris, trong bản tường trình đề ngày 1-9-1910, ngài viết như sau : "Nguồn gốc của 2 giáo xứ Kim Ngọc và Tầm Hưng khá xa xưa, không thể xác định được ngày tháng hình thành. Tuy nhiên, ta biết chắc chắn rằng vào thế kỷ XVIII đã có 2 giáo xứ này, do các cha Dòng Tên ... Niên lịch đầu tiên mà người ta có thể xác định là năm 1783, Đức Cha Bennetat đã có nói về giáo xứ Kim Ngọc và Tầm Hưng ... nguồn gốc của 2 xứ này thật xa xưa. Mặt khác, nếu trong tỉnh Bình Thuận có các tín hữu đã rửa tội được 2 thế hệ, thì đó là 2 giáo xứ Kim Ngọc và Tầm Hưng.
Những tín hữu đầu tiên đến đây là dân : Bình Định, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hoá, Bắc Ninh... Vì kế sinh nhai đã đến đây lập nghiệp. Đến năm 1955, thì có thêm người Hải Phòng và Nghệ An về cùng chung sống.
Theo dòng thời gian, cùng với Giáo Hội Việt Nam, giáo xứ tầm Hưng đã trải qua bao thăng trầm:
Dưới thời của Đức Cha Adran, đời sống đạo an bình và có một sinh lực mới.
Dưới thời vua Minh Mạng : lệnh bắt đạo được thực hiện triệt để, tất cả các kỳ mục đều bị bắt giải về Phan Rí, cầm tù, tra tấn như ông trùm Chiến, trưởng viên chức Tầm Hưng. Các cơ quan tịch biên nhà thờ Tầm Hưng, biến thành nhà nuôi tằm, dệt tơ...
Nhưng với lòng đạo đức, giáo dân vẫn tiếp tục hội họp trong nhà của các ông trùm như: ông Thu Thi, ông Thu Liêm, ông Mai... để đọc kinh, cầu nguyện.
Đến thời vua Tự Đức : vị vua bắt đạo khét tiếng, cơn bão táp đã giáng xuống trên 2 giáo xứ này. Lần này không chỉ có các viên chức, mà cả đàn ông, đàn bà, trẻ em, người già... khoảng 100 người bị bắt giải về Phan Rí. Nhóm người này bị nhốt vào 3 nhà tù chật chội, thiếu không khí, dưới sự giám sát tàn bạo của một đội lính canh. Bà con đói, khát, áo quần rách nát... khiến một số đã chết sau một thời gian bị thiếu thốn và bị ngược đãi
Đến thời Văn Thân: họ rảo khắp làng mạc, tàn sát các tín hữu. Trong tình thế vắng chủ chăn, các tín hữu như rắn không đầu, nên có một số đông băng rừng trốn vào Bà Rịa, cũng là vùng đất đầy máu lửa thời bấy giờ. Nhà thờ và nhà dân đều bị cướp bóc và đốt phá.
Sau một thời gian lắng dịu, các linh mục, như cha An, lại tìm cách đưa các tín hữu về quê. Khi về, cha An ngụ tại nhà ông Sử ; ngài cho xẻ gỗ làm nhà thờ lớn, vì số tín hữu gia tăng.
Về cơ sở vật chất : giáo xứ đã có 2 ngôi nhà thờ thời Tự Đức và phòng trào Văn Thân. Đến năm 1926-1929, ngôi nhà thờ kiên cố được xây dựng có thể do cha F. Nhơn hay cha Gioan Baotixita Bạch và sử dựng cho đến ngày 31-3-1997. Và ngôi nhà thờ mới hiện nay được khánh thành ngày 31-3-1999, do Đức Giám Mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi.
Cùng với giáo dân, các linh mục đã gắn bó với giáo xứ Tầm Hưng : cha Tho, cha Trang, cha Vân, cha Ẩn... (trước đó không rõ). Rồi đến các cha: cha Phêrô Sứ (30.0l.1908), cha Gioan Baotixita Bổn (l0.05.1909), cha J. Masseron (04.04.1911), cha Henri Barré (25.04.1911), cha A.f. Luật (21.04.1912), cha Phêrô Ngôn (21.03.1915), cha Jn . Friend (12.03.1917), cha Phêrô Cảnh (04.09.1919), cha J. Khánh (23.02.1922), cha F. Nhơn (30.l0.1926), cha Gioan Baotixita Bạch (14.04.1929), cha Anrê Nuôi (28.02.1932), cha J. Sinh (04.05.1936), cha Thomas Vạn (28.03.1938), cha Phaolô Tiên (28.l0.1944), cha Phaolô Bộ (06.02.1945), cha Anrê Đại, cha Phanxicô Khâm, cha Sébatien Chánh (27.03.1948), cha Gioankim Nghị (1950), cha Phêrô Nhàn (1957), cha Phêrô Hành (1962), cha Phêrô Hiền (1968), cha Giuse Cư (1972), cha Phêrô Nhường (1975), cha Giuse Chữ (1988...).
Hiện nay, giáo xứ Tầm Hưng có 3218 người, gồm 692 gia đình trong 6 giáo họ.
Cuộc sống kinh tế của bà con giáo dân, nói chung còn nhiều khó khăn, vì mỗi gia đình chỉ có vài sào ruộng, không có nghề gì khác.
Cuộc sống đạo tuy âm thầm, nhưng cũng đã biết hướng cuộc sống đức tin vào đời sống nội tâm, cũng như biết sống chan hoà với bà con lương dân chung quanh.
Ngoài ra còn có nhà thờ họ Vinh Hưng được xây mới năm 1992, nhà giáo lý hoàn tất cùng thời nhà thờ : tháng 11.1999.
Về đời sống ơn gọi tu trì thì hiếm hoi. Tuy nhiên, đã đóng góp cho Giáo hội 2 linh mục: cha Phanxicô Assisi Nguyễn Cao Cầu và Augustinô Nguyễn Văn Lạc.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
MA LÂM - HÀM THUẬN BẮC - BÌNH THUẬN Điện thoại:062.865032 |
| Năm thành lập: |
|
(1650) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(3071) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
KITÔ VUA (22/11)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ: VINH THỦY
Giáo xứ Vinh Thủy tước hiệu Mẹ Mân Côi được hình thành từ tháng 08.1955, với khoảng 3000 giáo dân gốc giáo phận Vinh thuộc các giáo xứ: Mành Sơn, Vĩnh Yên, Tân Lập, Thuận Nghĩa, Tân Vinh, Tân Lộc (Nghệ An), và một số giáo dân tỉnh Quảng Bình di dân vào Nam sau hiệp định Geneve.
Vì kế sinh nhai, nên những năm sau đó phần lớn giáo dân lại dời đi nơi khác để làm ăn sinh sống. Đến năm 1967, gần 1000 giáo dân xứ Vinh Hưng đến tạm cư vì chiến tranh, được giáo quyền xác nhập vào giáo xứ. Từng phục vụ: cố linh mục Phanxicô Xaviê Lê Trọng Khiêm (08.1955 - 11.1965), cố linh mục Hồ Ngọc Cai (1956), cố linh mục Nguyễn Quyền (1957), linh mục Trịnh Quang Cảnh (1960); linh mục Gioan Baotixita Lê Xuân Hoa (11.1965 - 8.1973), linh mục Gioan Baotixiata Vũ Đình Hiên (8.1973- 5.1975).
Về cơ sở vật chất, song song với công tác định cư, cha xứ và giáo dân đã tiến hành làm một nhà thờ bằng gỗ, một nhà xứ và nhà trường cũng bằng các vật liệu nhẹ, tất cả đều tọa lạc trên đồi cát cao gần bờ biển. Năm 1965, được tái thiết toàn bộ bằng vật liệu nặng (khu vực này hiện nay đã bị Nhà Nước trưng dụng xây dựng khách sạn Novotel. Năm 1964, trước khi về hưu dưỡng, cố Lm. Lê Trọng Khiêm đã xây thêm một nhà thờ mới nằm sát tỉnh lộ 9 (đường Phan Thiết - Mũi Né). Từ năm 1978, nhà thờ này trở thành trung tâm sinh hoạt phụng vụ của giáo xứ.
Về tinh thần, nhờ vào lòng đạo đức căn bản lâu đời của người giáo dân, cùng với sự lãnh đạo nghiêm khắc về luân lý của các vị chủ chăn, đời sống đức tin ngày càng vững mạnh, từ đó công việc truyền giáo được triển nở một cách tốt đẹp.
Sau biến cố 1975, giáo dân tản mác với nhiều lý do chủ quan cũng như khách quan, số giáo dân có lúc chỉ còn hơn 200 người. Nhờ vào công tác truyền giáo tích cực, thêm vào đó giáo dân các nơi đến định cư sinh sống, hiện nay số giáo dân đã lên đến 565 người nằm trong địa bàn rộng vào bậc nhất trong thành phố Phan Thiết. Mặc dầu số giáo dân thật khiêm tốn, nhưng với bất cứ hoàn cảnh nào, luôn luôn duy trì một Hội đồng Mục vụ 5 thành viên điều hành các hoạt động trong giáo xứ. Hiện nay, các đoàn thể như Phan Sinh Tại Thế, Các Bà Mẹ Công Giáo, Tông đồ Thiếu Nhi, cũng dần đi vào nề nếp và có chiều hướng khởi sắc, nhờ vào sự lãnh đạo của các linh mục trực tiếp cũng như gián tiếp: cha Gioan Baotixita Hoàng Văn Khanh (7.1975 - 8.1975), cha Giuse Đinh Vĩ Đại (8.1975 - 10.1978). Từ 1978 không có chủ chăn chính thức, giáo xứ được bề trên gởi giao cho cha Phó xứ Thanh Hải An phong Nguyễn Công Vinh kiêm nhiệm, đến 02.1988 cha Quản lý Tòa Giám Mục Phanxicô Xaviê Đinh Tiên Đường đặc trách, cha Giuse Nguyễn Kim Anh (11.1992 - 6.1994), cha Phêrô Nguyễn Văn Học (12.6.1994 -31.05.2002), cha JB. Hoàng Văn Khanh (01.06.2002- …).
Về cơ sở vật chất: nhà thờ được tu sửa mặt tiền, cung thánh, đồng thời xây dựng mới một nhà xứ và hội trường 2 phòng trong những năm 1991 - 1992.
Với một địa bàn rộng lớn, số giáo dân chỉ chiếm 3,65% dân số, nên công tác truyền giáo được đặt lên hàng đầu. Hằng năm số người dự tòng càng tăng, điều đáng khích lệ là có nhiều hộ gia đình xin tòng giáo hoàn toàn.
Về văn hóa, khoảng 30 em đã tốt nghiệp hoặc đang theo học đại học, 98% các em đều được cha mẹ ý thức cho đến trường.
Chăm sóc người nghèo, già cả neo đơn cũng là một mục tiêu của giáo xứ, hằng năm vẫn duy trì thăm hỏi, ủy lạo bệnh nhân tại bệnh viện trong các dịp đại lễ Giáng Sinh, Phục Sinh, năm vừa qua đã cộng tác với Tòa Giám Mục thực hiện được 18 ngôi nhà tình thương cho những gia đình nghèo, không phân biệt lương giáo.
Hướng về tương lai, giáo xứ vẫn đặt hai trọng tâm là chăm sóc người nghèo và công tác truyền giáo qua đời sống chứng tá và việc làm cụ thể. Về văn hóa vẫn duy trì khích lệ cổ vũ việc mở mang kiến thức cho con em như trước đây đã thực hiện là phát thưởng cho những em có thành tích cao trong học tập vào mỗi cuối niên học. Hy vọng rằng thế hệ trẻ được quan tâm chăm sóc chu đáo hôm nay, là đôi cánh đưa giáo xứ vươn lên vững mạnh hơn trong ngày mai.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
PHÚ THỦY - PHAN THIẾT - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.822728 |
| Năm thành lập: |
|
(1955) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(780) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ MÂN CÔI (07/10)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ VINH PHÚ
Hiệp định Genève 20-7-1974 : trong lớp người di cư vào Nam, có một đoàn người đa số gốc giáo xứ Tân Yên, Nghệ An, trôi dạt đến bờ biển Thương Chánh (Phan Thết)... Giáo xứ Vinh Phú hình thành tại đó, trong bối cảnh hoang mang của lịch sử. Cộng đoàn Vinh Phú quây quần dưới sự chăm sóc của cha Thái Quang Nhàn, chính xứ đầu tiên (1954).
Số giáo dân lúc đó khoảng 2000. Từ ngày thành lập 1954 đến 1975, giáo xứ phải trải qua bao khó khăn do kinh tế yếu kém, dân chúng đại đa số sống bằng nghề biển. Tuy nhiên, đức tin thì nồng nàn như muối mặn. Dưới bóng tháp chuông cao vời vợi, đã in bóng các vị chủ chăn : cha Thái Quang Nhàn (1954-1956), cha Hồ Ngọc Cai (1957-1968), cha Vũ Đình Hoạt (1960-1961), cha Trần Phúc Định (1962-1964), cha Nguyễn Văn Học (1968-1972), cha Nguyễn Sơn Ngà (1970-1972), cha Hoàng Thái Ân (1972-1973), cha Nguyễn Huy Quyền (1973-1975), cha Thái Quang Nhàn (1975-1979), cha Hoàng Văn Khanh (1988-1996), cha Nguyễn Tiến Huynh (1997...)
Về cơ sở vật chất, lúc khai sinh giáo xứ, nhà thờ chỉ là một dãy nhà lợp tôn, vừa nóng lại vừa ẩm thấp, lặng lẽ trên cát trắng. Năm 1956, khởi công xây dựng nhà thờ mới bằng vật liệu tự chế, lấy vỏ nghêu sò trộn ximăng mà đúc khuôn. Nhà thờ và tháp chuông đều mang dáng dấp nhà thờ tháp chuông của Tân Yên, như gợi nhớ về giáo xứ quê Mẹ.
Biến cố lịch sử 30-4-1975, một số giáo dân Vinh Phú lần lượt vượt biển ra sống ở nước ngoài, số giáo dân ở lại còn khoảng 1400. Nhà cửa của những người vượt biển di cư để trống đều được Nhà Nước giao cho cán bộ công nhân viên và bà con sử dụng, tất cả đều bên lương. Làm cho bà con lương và giáo sinh sống xen lẫn nhau, cận kề nhau, mà không có sự đoàn kết.
Thế rồi, một biến cố đau thương làm bà con Vinh Phú rụng rời : tối ngày 27-4-1979 Nhà thờ Vinh Phú bị chính quyền ra lệnh đóng cửa, và cha xứ Thái Quang Nhàn bị tạm giữ ! Đoàn chiên mất chủ, sửng sờ chen lẫn buồn tủi đau thương, phải xin nấp bóng cha Đặng Đình Chẩn và nhà thờ giáo xứ Đông Hải, còn Nhà thờ Vinh Phú chịu cảnh hoang vắng lạnh lùng...
Mãi đến tháng 2/1988 Vinh Phú mới có cha xứ mới : cha Hoàng Văn Khanh, nhưng vì nhà thờ chưa được mở cửa lại, nên cha Hoàng Văn Khanh phải ở tại nhà xứ Đồng Hải. Tháng 4/1990 chẳng những nhà thờ được mở cửa, mà Nhà Nước còn cho phép đại trùng tu, cha Hoàng Văn Khanh đã đại tu mới theo kiểu kiến trúc hiện đại, nhưng vẫn giữ được nét phảng phất hoài hương quê Mẹ Tân Yên. Nhà xứ cũng được trùng tu, và còn xây mới một nhà văn hoá rộng rãi xinh xắn.
Từ đây, cùng với thời đổi mới, đời sống đạo - đời Vinh Phú có chiều phát triển mạnh: các hội đoàn Công Giáo Tiến Hành được lập lại và phát triển, Legio, Gia trưởng, Bà Mẹ Công Giáo, Giới trẻ, Thiếu nhi Thánh Thể...
Kinh qua 46 năm phát triển, khi thuận lợi lúc khó khăn, giáo xứ Vinh Phú đã cống hiến cho Hội Thánh 7 linh mục, trong số có 2 cho giáo phận nhà, 6 nữ tu, và một ít dự tu nam nữ. Trình độ văn hoá được nâng lên trông thấy : hiện có 13 tốt nghiệp đại học, 32 đang học đại học và 87 học sinh cấp 3.
Là một giáo xứ nằm trên hành lang du lịch của Phan Thiết, Vinh Phú đang quyết tâm phát triển đa dạng Đạo - Đời, hầu làm sáng danh Chúa, và để đem lại ấn tượng tốt đẹp cho du khách tham quan.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
HƯNG LONG - PHAN THIẾT - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.821068 |
| Năm thành lập: |
|
(1955) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1478) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ (29/06)(ngaylemung) |
|
|
|
GIÁO XỨ ĐÔNG HẢI
Vào năm 1955 trong hoàn cảnh phân chia đất nước theo hiệp định Genève, cha Đaminh Vũ quang Đô đã hướng dẫn khoảng 800 giáo dân giáo xứ Đông Xuyên (thuộc giáo phận Hải Phòng, Việt Nam) đến định cư lập nghiệp tại cồn cát Hưng Long, thị xã Phan Thiết.
Sau khi tạm ổn định chỗ ở, cha con đã vội dựng một nhà thờ tạm bằng vật liệu nhẹ, và từ đây giáo xứ Đông Hải được hình thành, gồm 02 giáo họ: Đông Hải (họ nhà xứ) với giáo dân gốc Đông Xuyên Bắc Việt nói trên, và giáo họ Xóm Dừa với hơn 400 giáo dân tại chỗ, gốc từ các Tỉnh Miền Trung (Q.Bình, Q.Nam, Q.Ngãi ...) vào làm ăn sinh sống từ những năm 1925 - 1930, được tách khỏi giáo xứ Lạc Đạo (nay là giáo xứ Chính Tòa Phan Thiết). Cũng từ đây, bắt đầu có một số tổ chức, như Ban Giúp Việc, Ban Hát, Đoàn Thiếu Nhi Công Giáo.... ., nhưng cũng là cho giáo họ Đông Hải thôi, còn Xóm Dừa thì vẫn cảnh "Ăn cơm nguội nằm nhà ngoài " thôi...
Vào khoảng 1961 - 1962, khi đời sống vật chất đã khấm khá, một nhà xứ, rồi nhà thờ mới, được xây dựng bằng vật liệu nặng: có tường bằng gạch Bloc, mái lợp ngói đỏ, có tháp chuông cao 15-16m... Trước đó, một hai năm giáo họ Xóm Dừa cũng đã có một nhà nguyện, tường xây bằng gạch thẻ, mái lợp bằng tôn Ciment ...Nhưng vấn đề học hành, nhất là về giáo lý, thì chưa được mấy lưu tâm để ý.
Sau biến cố 04/1975, sẵn có ghe Cầu Kiều lớn, hầu hết số gia đình gốc Đông Hải - Hải Phòng, đều đi di tản: đi Vũng Tàu, đi Phước Tỉnh, cũng có một số khá đi ra nước ngoài..., Cha xứ lúc đó là cha Đaminh Nguyễn Trung Thành cũng đi theo dân ... Vì thế, sau một thời gian vắn về nhận giáo phận, Đức Giám Mục Nicolas đã bổ nhiệm cha Phêrô Đặng đình Chẩn, nguyên hiệu trưởng trường Chính Tâm, về coi xứ Đông Hải khi ấy còn khoảng 600-700 giáo dân, kiêm thêm giáo xứ Vinh Phú... Đây là thời kỳ quân quản, bao cấp, giáo xứ không có hoạt động gì nhiều, ngoài giờ lễ sáng, kinh chiều.
Tháng 02/1988 cha Chẩn được điều đi coi giáo xứ Thọ Tràng và cha JB Hoàng văn Khanh về thay, để đồng thời lo việc mở cửa và trùng tu nhà thờ Vinh Phú...Trong thời gian lo thủ tục giấy tờ về nhà thờ Vinh Phú, cha Khanh có sửa chữa ít nhiều cả nhà thờ Đông Hải lẫn nhà nguyện Xóm Dừa...Và sau khi giáo xứ Vinh Phú được phục hồi, với nhà xứ, nhà thờ khang trang, cha Khanh dọn hẳn về Vinh Phú ở, và Đông Hải, Xóm Dừa biến thành 02 họ lẽ của giáo xứ Vinh Phú... Vào cuối năm 1991, có 2 nữ tu MTG Tân Bình về ngụ tại nhà xứ Đông Hải, nhưng để làm việc cho Vinh Phú...
Tháng 04/1992, Đông Hải và Xóm Dừa được tách khỏi Vinh Phú để trở thành vị trí cũ, với cha xứ mới là JB Vũ đình Hiên, và có khoảng 800 giáo dân ở rải rác trong 6 khu dân phố. của phường Hưng Long và mươi lăm gia đình cắt từ Vinh Phú sang... Quang cảnh nhà xứ Đông Hải lúc ấy thật đúng là "vườn không nhà trống ", mặc cho mọi người lấn chiếm và đi ngang về tắt...
Vì thế việc đầu tiên của cha xứ mới là tìm cách xây bờ tường xung quanh khu vực nhà thờ, nhà xứ... (vào cuối năm 1992). Công việc của năm 1993 là xây dựng mấy gian nhà hội, để vừa làm nơi hội họp, vừa dạy giáo lý, và cũng từ đây bắt đầu mở các lớp học tình thương và nhà trẻ... rất được hoan nghênh...Công tác ưu tiên của năm 1994 là xây lại nhà xứ vì đã qúa bệ rạc, không ai còn dám trú ngụ, những ngày có mưa to gió lớn.
Vào đầu năm 1995, Đức Giám Mục đặt vấn đề nhà thờ giáo xứ: ý ngài muốn trùng tu theo lối nhà thờ Vinh Phú, nhưng vì địa thế qúa chật và thấp, vách tường và sườn mái đã nhiều chỗ hư hỏng, nên đành phải xây mới với 02 tầng, trên thờ Chúa dưới phục vụ con người ...Sau đúng một năm trao đi đổi lại mới được Chính quyền Tỉnh cấp giấy phép và rồi vào dịp chầu lượt 1996, trong buổi chầu bế mạc, Đức Giám Mục đã làm phép viên đá tượng trưng, để rồi vào đầu tháng 11.1996 bắt đầu dở củ xây mới, đến ngày 11.12.1997 thì cung hiến với tước hiệu đền Thánh Tử Đạo Việt Nam (tháp chuông thì mãi tháng 05.1998 mới xong). Như vậy, dầu không tốt đẹp gì, thì việc xây dựng cơ sở vật chất kể như hoàn thành, để chú tâm vào việc xây dựng tinh thần và thiêng liêng...
Hướng về tương lai, từ cuối năm 1994, giáo xứ đã có một số tổ chức: Legio Mariae, Bà Mẹ Công Giáo, Huynh Trưởng, Thiếu Nhi Công Giáo, nhưng cũng chỉ hoạt động chừng mực…Với năm Thánh 2000 công việc ưu tiên là đẩy mạnh giới phụ huynh, gia trưởng, đặc biệt vào dịp tháng 03, ngày lễ Thánh Giuse 20/03 với Mùa Chay 2000, vì cho tới nay, nói chung về mọi mặt (kinh tế, văn hóa, xã hội đều khó khăn, cho nên vấn đề tôn giáo cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ... Có thể nói, Đông Hải là một địa điểm tái truyền giáo quan trọng, cần được đầu tư nhiều sức người sức của ... Tại địa phương, thì mãi đến nay mới có được 2 chủng sinh.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
HƯNG LONG - PHAN THIẾT - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.822711 |
| Năm thành lập: |
|
(1955) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(958) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VN (26/11)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ CHÍNH TÒA
Vào khoảng 1875 - 1880, có một vị thừa sai thuộc Hội Thừa Sai Paris là cố Đức (tên Việt), đến Phan Thiết với một số giáo dân, gốc Bình Định và Quảng Bình thuộc giáo xứ Tân Thành, Mỹ Hòa hạt Bình Chính, địa phận Vinh để sinh sống. Thoạt đầu cố Đức và giáo dân dựng lên một ngôi nhà nguyện thô sơ, mái lá, vách tre, trên một khu đất nhỏ thuộc làng Lạc Đạo. Năm 1890, cố Sáng (tên Việt) xây dựng một thánh đường, xây bằng gạch lợp ngói rộng rãi hơn, để đáp ứng nhu cầu số giáo dân mỗi ngày một tăng. Tiếp theo là cố Mossard, cố Masseron, xây dựng nhà xứ để làm nơi ở cho các vị thừa sai. Các vị thừa sai lần lượt đến làm chính xứ là cố Henrisson, cố Hiền (tên Việt), cố Ba (tên Việt), cố Báu (Brugidou). Thời cố Báu có cha Việt nam là cha Phao lô Võ văn Chánh. Linh mục Việt Nam đầu tiên làm chính xứ là cha Giuse Nguyễn minh Chiếu.
Khi cố Thơm (Thommeret) làm chính xứ, Ngài mở rộng thánh đường và làm nhà xứ mới. Phụ tá cho cố Thơm là cha Louis Lê Văn Sinh. Sau cố Thơm là cố Năng (Victor Caillon)- vị thừa sai cuối cùng của giáo xứ. Thời cố Năng có các cha phụ tá là cha Phao lô Trần Bích Sơn, cha Giuse Nguyễn Thanh Vân, cha An tôn Vũ Ngọc Đăng. Tiếp theo là cha Giuse Phạm Dương Thái làm chính xứ. Các cha phụ tá lần lượt là cha Phaolô Bùi Duy Nghiệp, cha Phanxicô Xavie Nguyễn Cao Cầu. Cha Giuse Nguyễn Viết Cư làm chính xứ năm 1972 đến 1986. Các cha phụ tá lần lượt là Augustino Nguyễn Văn Lạc, cha Gioan Nguyễn Văn Hảo, cha Phanxico Xavie Đinh Tiên Đường.
Ngày 17/01/1975, địa phận Phan Thiết được thành lập đặt dưới quyền cai quản của Đức Giám Mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi và giáo xứ Lạc Đạo được nâng lên thành giáo xứ Chính Tòa.
Ngày 30/03/1986, cha chính xứ Giuse Nguyễn viết Cư qua đời, cha phụ tá Phanxico Xavie Đinh tiên Đường tạm thời coi sóc giáo xứ.
Ngày 14/02/1988 cha Giuse Nguyễn tiến Huynh được bổ nhiệm quản xứ Chính Tòa. Năm 1992 cha Huynh xây lại thánh đường cùng với ngôi nhà giáo lý, trường học giáo lý mới như hiện nay. Cha Phaolô Hoàng văn Thinh làm phụ tá từ ngày 15/07/1996 đến tháng 06/1998.
Ngày 08/02/1997 cha Huynh rời xứ Chính Toà sang làm chính xứ Vinh Phú.
Ngày 25/02/1997 cha JB Trương văn Hiếu, nguyên chính xứ Hòa Vinh được bổ nhiệm làm Chính xứ Chính Tòa thay cha Huynh.
Ngày 26/09/1998 cha Phaolô Hoàng văn Thinh rời giáo xứ Chính Tòa đến làm quản xứ giáo xứ Chính Tâm (Trà Tân 2).
- Ngày 04/10/1998 cha Phanxicô Xavie Nguyễn quang Minh được bổ nhiệm làm phó xứ Chính Tòa.
Hiện nay giáo xứ có được sự cộng tác của hai cộng đoàn nữ tu thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Tân Bình (Nha Trang) và Phan Thiết.
Một vài nhận định và số liệu
1. Hội Đồng Mục Vụ giáo xứ gồm 21 người .
2. Giáo xứ Chính Tòa hiện nay gồm 7 giáo họ (Bình Hải 01, Bình Hải 02, Đức Long, Tam Hiệp, Thánh Đường, Tiến Lợi, Tiến Thành), sinh sống bằng nhiều ngành nghề khác nhau.
- Nghề nông: 27 hộ thuộc giáo họ Tiến Lợi, cách xa nhà thờ 5km, hầu hết là nghèo.
- Buôn bán: khá nhiều, tập trung vào họ Tam Hiệp, Thánh Đường và rải rác trong các họ khác.
- Làm biển: nhiều nhất trong các ngành nghề, tập trung vào các họ Bình Hải 01, Bình Hải 02.
- Công nhân viên, nghề tự do: số ít, rải rác trong các giáo họ.
- Họ Tiến Thành quả xa nhà thờ: 20km, gồm 33 hộ, 326 người, chủ yếu sống bằng nghề biển.
- Tổng số trong toàn giáo xứ là 738 hộ gồm 3364 khẩu. Đa số là nghèo.
3. Văn hóa: bình quân ở trình độ tiểu và trung học. Một số trẻ em và người lớn còn mù chữ.
Hiện có 02 lớp tình thương cấp I ban ngày và 02 lớp xóa mù chữ ban đêm.
4. Một thiểu số sinh hoạt trong các đoàn thể như: Gia Trưởng, Các Bà Mẹ Công Giáo, Phan Sinh Tại Thế, Legio, Giới Trẻ, Têrêxa, Thiếu Nhi Thánh Thể ....Mỗi đoàn thể đều có sinh hoạt hằng tuần và cố gắng huấn luyện hội viên thành những Kitô hữu đạo đức, có tinh thần tông đồ. Nhất là Hội Legio, trực tiếp đi truyền giáo hằng tuần. Số người lương trở lại ngày càng đông qua các khóa giáo lý tân tòng và hợp thức hóa hôn nhân.
Tháng 06/1997, giáo xứ Chính Tòa chính thức cho ra mắt một bản "Đường Hướng Mục Vụ” , nhằm xây dựng và phát triển giáo xứ về mọi phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo trên chủ đề "Yêu Thương và Phục Vụ " nhằm đem lại cho mọi cá nhân, mọi gia đình cuộc sống ấm no, văn minh, đạo đức và hạnh phúc. Bản Đường Hướng Mục Vụ gồm 05 điểm:
1. Xây dựng đời sống ấm no:
Muốn ấm no trước hết phải bài trừ các tệ đoan xã hội như rượu chè, cờ bạc, dâm ô, xì ke ma túy vì lý do là nguyên nhân sinh ra đói nghèo lạc hậu. Sinh đẻ phải có trách nhiệm: sinh đẻ bừa bãi sinh ra nghèo đói.
2. Xây dựng cuộc sống trên căn bản:
Cần, kiệm, liêm, chính, công bằng, bác ái, đoàn kết, tương thân tương ái. Phải lo cho có công ăn việt làm, tránh sự ở nhưng. Lập thùng tiết kiệm.
3.Mở mang văn hóa:
Lo cho con cái được học hành đến nơi đến chốn, ít nhất là hết cấp 03. Lập Hội Khuyến Học, vận động xin học bổng, nâng cao dân trí bằng việc học hỏi, đọc sách báo, mở phòng đọc sách.
4.Củng cố đời sống đức tin:
Học hỏi Lời Chúa, học hỏi giáo lý: tin vào Chúa Giêsu là tình yêu Thiên Chúa. Yêu thương nhau, đoàn kết xây dựng, mở mang nước Chúa bằng việc hoạt động tông đồ, bằng đời sống gương mẫu. Yêu mến Thánh Lễ, rước lễ, tôn sùng Thánh Tâm Chúa, tôn sùng Đức Mẹ, lần chuỗi Mân Côi. Các đoàn thể thay phiên chầu Thánh Thể mỗi ngày ít nhất là một giờ. Cộng chung cả tuần là 9 tiếng đồng hồ.
5.Xây dựng đời sống văn minh.:
Gia đình văn hóa, cổ võ ơn Thiên Triệu đi tu làm linh mục, tu sĩ, hợp tức hóa các gia đình rối. Thực hiện được Đường Hướng Mục Vụ trên hy vọng giáo xứ Chính Toà sẽ một ngày một thăng tiến về mọi mặt và trở thành một giáo xứ xứng danh.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
2B HÀN THUYÊN - LẠC ĐẠO - PHAN THIẾT - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.821945 - 3817350 |
| Năm thành lập: |
|
(1890) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(3301) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU (11/06)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ THÁNH MẪU
Vào năm 1967, mảnh đất ở giữa bệnh viện Phan Thiết và sân vận động là một khu đầm lầy nước đọng. Ông Nguyễn Quốc Hoàng, có công bồi đắp mặt bằng, Cha Caillon và Cha Phạm Ngọc Oanh xuất qũi xây cất một nhà thờ cho giáo dân và bệnh nhân bệnh viện. Công trình được hoàn thành ngày 19.06.1963.
Linh mục Lê Văn Phiên được Cha Caillon mời về phụ trách giáo điểm vừa được thành lập.
Tết Mậu Thân 1968, chiến cuộc tàn phá hầu như hoàn toàn. Tháng 08/1970, linh mục Nguyễn Quang Huy được Tòa Giám Mục chỉ định đứng ra xây cất lại như cũ. Ngài còn xây thêm một trường mẫu giáo giao cho các nữ tu phụ trách.
Từ hè 1971 - 1975, cha Augustinô Phạm Ngọc Oanh - Hạt trưởng Bình Thuận kiêm linh mục phụ trách Bệnh viện. Mùa xuân 1975, chiến cuộc tràn tới, cha phụ trách và đa số các nữ tu đề sơ tán. Tòa Giám Mục ủy quyền cho một nữ tu ở lại trông coi, đó là nữ tu Trần thị Vịnh.
Ngày 22.05.1975, linh mục Gioan Baotixia Cao Vĩnh Phan đến thì gặp các anh lính giải phóng đang kiểm kê đồ đạt để tịch thu, lý do: đây là tài sản của quân đội Sài gòn. Cha Cao Vĩnh Phan đến tạm trú tại nhà thờ. Thời gian này giáo xứ sống thầm lặng. Dầu khó khăn thiếu thốn, Cha Cao Vĩnh Phan vẫn kiên trì bền bỉ đi đến tận vùng sâu, vùng xa, ban bí tích, khuyên bảo giáo dân, và đã có 40 gia đình công giáo với khoảng 250 giáo hữu trở về từ các phường xã: Bình Hưng, Phú Trinh, Phong Nẫm, Hàm Liêm, Hồng Liêm.
Ngày 10.03.1977, Đức Giám Mục Phan Thiết ra quyết định công nhận giáo xứ Thánh Mẫu, lấy nhà thờ hiện có làm nhà thờ xứ, với một họ nhánh là họ Xóm Mới.
Ngày Cha Gioan Baotixita Cao vĩnh Phan rời xứ (27.12.1991 ) đã có 63 gia đình với khoảng 400 giáo hữu.
Ngày 02.01.1992, cha Phanxicô Xaviê Hoàng Kim Điền về nhận xứ, ngài tiếp tục và hoàn bị các khâu tổ chức, thành lập các hội đoàn: Legio, Bà Mẹ Công Giáo, Thiếu nhi Thánh Thể. Ngài bị bệnh và về hưu ngày 01.10.1998. Bấy giờ giáo xứ đã có 121 gia đình với 529 giáo dân.
Hiện nay, Cha Giacôbê Lê Đức Trung quản xứ, việc sinh hoạt và truyền giáo diễn ra đều đặn, tích cực. Giáo xứ hiện có Hội đồng Mục vụ gồm 18 thành viên, 03 giáo họ là Phêrô (thuộc phường Bình Hưng), Văn Thánh (ở xã Phong Nẫm) và Yên Khang (ở xã Hàm Liêm) 04 giáo xóm, 166 gia đình và 720 giáo dân, 1 nữ tu và 1 linh mục. Về công tác xã hội, giáo xứ đã thực hiện được 18 ngôi nhà tình thương. Việc truyền giáo và bác ái, giáo xứ chú trọng đặc biệt đến khu Văn Thánh và Yên Khang là 02 họ đạo mới thành lập, nghèo, lại ở xa nhà xứ. Về văn hóa, giáo xứ hiện có 77 học sinh cấp 3 và 23 em đang học Đại học hoặc trung cấp chuyên nghiệp.
Nhờ ơn Chúa, từ giáo xứ Thánh Tâm đã chết đi, để cho mầm non là giáo xứ Thánh Mẫu trỗi dậy vươn lên và tỏa sáng hứa hẹn mùa bội thu. Ý Chúa nhiệm mầu, loài người làm sao hiểu thấu.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
PHÚ TRINH - PHAN THIẾT - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.825572 |
| Năm thành lập: |
|
(1975) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(724) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI (15/08)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ PHÚ HỘI
Trước ngày 30-04-1975, giáo xứ Phú Hội chỉ là một Giáo họ nhỏ bé thuộc giáo xứ Lạc Đạo, Phan Thiết. Vì phải đối mặt liên tục với chiến tranh, nên giáo dân tản mác làm ăn… số còn lại chưa đến 100 người.
Cơ sở vật chất còn lại là một ngôi thánh đường nhỏ bé, theo kiến trúc cổ, được xây dựng vào năm đầu của thế kỷ 20 và một nhà xứ gồm 8 phòng, cũng được xây dựng không lâu sau đó. Cả hai công trình trên hư hỏng dần theo thời gian, tuy rằng đã có vài lần nâng cấp, tu sửa trong nỗ lực bảo vệ di sản của người xưa, nhưng kiểu mẫu kiến trúc không còn nguyên vẹn. Lần tu sửa cuối cùng vào năm 1990.
Linh mục Giuse Trần Chính Cư là Cha xứ tiên khởi, từ khi Phú Hội được nâng lên hàng Giáo xứ vào tháng 04.1975. Năm 1994, Cha Giuse Trần Chính Cư nghỉ hưu, linh mục Phêrô Nguyễn Huy Hồng được cử về thay thế. Với tuổi trẻ, Cha Phêrô, cùng với sự cộng tác của Hội Đồng Mục vụ, giáo dân và nhất là được sự quan tâm giúp đỡ của Đức Giám Mục giáo phận, vào năm 1994 đã sửa mới ngôi nhà xứ, và năm 1998 xây dựng nhà sinh hoạt cho thanh thiếu niên. Trong thời gian này, một số giáo dân đã phân tán, lưu lạc nay trở về. Sinh hoạt đạo đức được sắp xếp đi vào nề nếp. Những người thờ ơ nguội lạnh được giáo xứ quan tâm giúp đỡ mời gọi trở về, những người già yếu bệnh tật cũng không bị bỏ quên.
Giáo xứ hiện có 127 gia đình và 544 tín hữu, các hội đoàn đang tồn tại và hoạt động tương đối hiệu quả gồm: Bà Mẹ Công Giáo. Legio Mariae, Thiếu nhi… Giáo xứ tuy nhỏ bé, nhưng đã đóng góp cho giáo phận 01 linh mục, 2 chủng sinh, 01 nữ tu dòng Mến Thánh Gía và 01 đệ tử. Mặc dù mức sống chưa cao nhưng việc học vấn đều được mọi gia đình quan tâm, nên không có người mù chữ, trình độ trung bình trên cấp I, cấp II. Từ tháng 10.1999, Cha Phêrô Nguyễn Huy Hồng được Đức Giám Mục cử về làm chánh xứ Thuận Nghĩa. Ngày 13.04.2000, Cha Phêrô NguyễnVăn Tiến được thuyên chuyển về làm chánh xứ Phú Hội.
Là một giáo xứ nông nghiệp, nhưng với ý chí và quyết tâm nâng cao đời sống cả hai mặt: vật chất và tinh thần, giáo xứ Phú Hội hy vọng sẽ tiến đến một đời sống sung túc và tốt đẹp hơn, nhằm nỗ lực phấn đấu để trở thành một giáo xứ có học vấn, có đạo đức, góp phần nhiều hơn cho hoạt động rao giảng Tin mừng và phục vụ mọi người.
Giáo xứ đang xây dựng lại Thánh đường.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
HÀM HIỆP - HÀM THUẬN BẮC - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.866617 |
| Năm thành lập: |
|
(1975) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(485) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH GIUSE (19/03)(ngaylemung) |
|
|
|
|
|
|
|