|
|
|
Loading
|
 |
Các giáo hạt » Hàm Tân |
|

Thông tin các giáo xứ trong giáo hạt đang cập nhật lại. thông tin này chỉ đúng đến thời điểm năm 2000 |
|
|

GIÁO XỨ THANH XUÂN
Thanh Xuân hiện nay là một trong ba Giáo xứ thuộc thị trấn Lagi, Hàm Tân, Bình Thuận, có 4.600 giáo dân, Đức Ông J.B. Lê Xuân Hoa làm chánh xứ, Cha Giuse Nguyễn Đức Khẩn phó xứ.
Năm 1955, một số giáo dân gốc Thanh Dã, Yên Đại, Giáo phận Vinh theo hai Cha già Phêrô Cao Hữu Hân và Phêrô Cao Hữu Tạo, từ Xoài Minh đến trại định cư Lagi B, thành lập Họ đạo thuộc Giáo xứ Vinh Tân do Cha J.B. Trần Ngọc Thủy làm chánh xứ. Sau đó một số giáo dân gốc Thuận Nghĩa cũng đến đây lập nghiệp. Mãi tới năm 1957, Họ đạo mới xây được nhà thờ và nhà xứ.
Năm 1960, Đức Cha Piquet Lợi, Giám Mục Giáo Phận Nha Trang nâng Họ đạo Thanh Xuân lên hàng Giáo xứ và đặt Cha J.B. Vũ Đình Hiên làm Cha xứ tiên khởi (1960-1972), với số giáo dân là 1.200 người, trong ba giáo họ Lavang, Lộ Đức, Fatima. Mọi người chăm lo xây dựng Giáo xứ, các công trình phụ dần dần được hoàn thành: Đài Đức Mẹ, Công trường Kitô Vua, Hội trường, lớp học, tháp chuông… Lòng đạo nhiệt thành sốt sắng: Các Hội đoàn Công Giáo Tiến Hành hoạt động sôi nổi, hăng say, nhiều khóa huấn luyện Cursillos, Công lý hòa bình được tổ chức. Số ơn gọi phát triển mạnh, nhóm In Mundo quy tụ trên 70 thành viên. Từ sau ngày 02.7.1972, Cha J.B. Lê Xuân Hoa về làm chánh xứ mới, kiêm Hạt Trưởng Hạt Bình Tuy, Thanh Xuân trở thành xứ Hạt, lại có Cha phó mới F.X. Phạm Quyền (1973-1975), mọi sinh hoạt tiếp tục khởi sắc, có thêm nhà xứ mới, lớp mẫu giáo, phòng giáo lý, các hội đoàn mới… như Liên Minh Thánh Tâm, Hội con Đức Mẹ, đưa lòng đạo đi vào chiều sâu.
Ngày 17.4.1975, Giáo Phận Phan Thiết được thành lập, Giáo xứ có Cha Phêrô Phạm Tiến Hành (1975-1990), Cựu Giám đốc Tiểu Chủng Viện Tinh Hoa về làm phụ tá, sinh hoạt đạo chuyển sang một bước ngoặc mới trong đời sống cầu nguyện. Phong trào đọc kinh trong gia đình, các nhóm chia sẻ Lời Chúa được hình thành, các Hội cầu nguyện như Lêgiô, Têrêxa… được chú tâm duy trì và phát triển. Giáo lý được tiếp tục trong nhà thờ nhờ hình thức thơ vè bình dân, đến năm 1990 mới mở lớp Giáo lý theo tuổi cho thiếu nhi và hoàn chỉnh dần theo chương trình của Giáo Phận. Đáng chú ý trong thời gian này là ngôi thánh đường mới được khởi công xây dựng ngày 19.8.1991 và cung hiến khánh thành ngày 24.6.1992. Đây là một trong những nhà thờ đầu tiên được xây dựng lại trong Giáo Phận Phan Thiết. Sau đó một loạt các công trình khác cũng được hoàn thành như: Hội trường, 04 phòng học mới, nhà xứ được nâng cấp và một phần được xây mới… Các Hội đoàn sinh hoạt trở lại với khí thế mới, như Thiếu nhi Thánh Thể, Liên Minh Thánh Tâm, con Đức Mẹ, Hội Bà Mẹ Công Giáo, Phụ Huynh là những đoàn thể hoạt động có hiệu quả được nhiều người tham gia.
25 năm phát triển cùng với Giáo phận, Giáo xứ Thanh Xuân tương đối ổn định về cơ sở vật chất, nhân sự, tinh thần để hướng về phía trước.
Đẩy mạnh việc truyền giáo và sống chứng tá. Giáo xứ tăng cường tổ chức đơn vị Giáo khóm, tuyển chọn thêm nhiều cán bộ, nâng số thành viên trẻ trong Hội Đồng Mục Vụ lên 31 người, thường xuyên được huấn luyện. Mở thêm các địa điểm truyền giáo mới về phía lương dân. Các đoàn thể được khuyến khích tham gia công tác từ thiện, bác ái, đặc biệt Thanh Xuân là nôi của nhóm Têrêxa làm việc tông đồ với người khuyết tật, phong trào được nhân rộng tới nhiều Giáo xứ. Với đội ngũ Giáo Lý viên 41 người, với sự cộng tác của các Nữ tu Dòng MTG Nha Trang, 21 lớp Giáo lý thiếu nhi, 01 lớp vào đời, Dự tòng, Hôn Phối được duy trì thường xuyên liên tục. Chăm sóc cho các cháu nhỏ, Thanh Xuân có 2 nhà trẻ mẫu giáo. Một lớp học tình thương được mở đều đặn giúp các em thiếu nhi cá biệt được học hành. Đội ngũ trí thức, giáo chức sinh viên đã tốt nghiệp, sinh viên các trường Đại học và Trung học được quan tâm đặc biệt, có nhóm báo tường để quy tụ tài năng Văn Nghệ. Nhóm Phaolô dành cho tân tòng mỗi năm có hai đợt sinh hoạt. Về mục vụ ơn gọi, Thanh Xuân có 12 linh mục, 07 Đại Chủng Sinh, 05 Tu sĩ nam, 18 Nữ tu. Ngoài ra có lớp dự tu 70 em sinh hoạt hàng tuần.
Bước vào năm 2000, năm ngân khánh của Giáo Phận, cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của thị trấn Lagi, Giáo xứ Thanh Xuân quả đang hướng về một tương lai đầy hy vọng.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
F. PHƯỚC HỘI - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 843328 |
| Năm thành lập: |
|
(1955) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(4661) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICAE (29/09)(ngaylemung) |
|
|
|
LƯỢC SỬ GIÁO XỨ TÂN LÝ
Ngày nay, du khách từ Sàigòn ra Hàm Tân, trên quốc lộ 1A đến ngã ba 46 rẽ phải, di chuyển khoảng 20 km2 thì đến trung tâm thị xã Lagi, sau đó hướng về cầu Tân Lý, trên con đường tỉnh lộ Cách Mạng Tháng Tám chạy dài ra Đồi Dương Hàm Tân, du khách sẽ thấy một ngôi thánh đường nguy nga, đó là Giáo Xứ Tân Lý.
1/ Vị Trí Địa Lý
Giáo xứ Tân Lý nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bình Thuận, là một trong những Giáo xứ lâu đời trong vùng Hàm Tân – Lagi.
Hiện nay, Giáo xứ Tân Lý tọa lạc ở phường Bình Tân, thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận. Phía Đông giáp Biển Đông, phía Bắc giáp Giáo xứ Bình An và Phước An, phía Tây và phía Nam được bao bọc bởi con sông Dinh chảy dài ra Biển Đông. Về khía cạnh tôn giáo, diện tích của Giáo xứ khoảng 7 km2. Nếu dân số của huyện Hàm Tân là 105.000 dân [1], thì giáo dân Tân Lý là 5192 [2] người.
2/ Giai Đoạn Phôi Thai.
Khoảng năm 1664, các nhóm quân nhân có Đạo, gốc Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên… tòng quân Nam Triều vào chinh phục vùng đất Ninh Thuận, Bình Thuận (lúc này thuộc lãnh thổ nước Chiêm Thành), sau đó, họ lưu lại luôn tại vùng đất này. Như vậy, vào khoảng thế kỷ XVII, vùng đất Bình Thuận đã có người Công Giáo định cư. Chính vì thế mà đến năm 1685, vùng Lagi đã có khoảng 300 giáo dân (theo tài liệu của Tòa Giám Mục Nha Trang, USU số 105) [3].
Dưới thời vua Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1848-1883), việc cấm cách, bắt bớ đạo nặng nề. Đặc biệt, trong khoảng thời gian từ năm 1848 đến năm 1862, dưới thời vua Tự Đức đã xảy ra rất nhiều biến cố quan trọng liên quan đến đạo và đời rất phức tạp. Đó là việc quân đội Pháp, Tây Ban Nha lấy cớ bảo vệ giáo sĩ, giáo dân, yêu cầu được tự do truyền giáo, nổ súng tấn công Đà Nẵng (1858), Gia Định (1859) và chiếm đóng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Trước tình hình đó, vua Tự Đức ra nhiều chỉ dụ cấm đạo rất ngặt nghèo, chẳng hạn : “ Đối với giáo sĩ người nước ngoài, Linh Mục bản xứ, nếu bị bắt thì xử tử hình bằng mọi hình thức; đối với giáo dân phải bỏ đạo, đạp Thánh Giá, nếu không tuân hành, tùy trường hợp, hoặc tử hình, hoặc đánh đòn, thích chữ vào mặt rồi đưa đi đày…” [4]. Trong số những chỉ dụ cấm đạo của vua Tự Đức từ năm 1848 đến năm 1862, thì chỉ dụ ban hành vào tháng 7 năm 1861 gọi là chỉ dụ “ phân sáp giáo dân” là quyết liệt và nghiêm khắc hơn cả. Với sắc lệnh phân sáp này, cùng với những chỉ dụ trước đây của vua Tự Đức đã ban hành từ những năm (1848, 1851, 1855, 1857, 1859, 1860), các làng, xóm đạo trong cả nước đã phải trải qua những sóng gió và thiệt hại rất lớn.
Trong bối cảnh đó, hàng ngàn người phải di cư lánh nạn để trốn những cuộc truy sát của quân triều đình thi hành chỉ dụ. Trong số những người lánh nạn thời điểm đó có nhiều giáo dân gốc Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên… đã trốn vào vùng Phan Rí, Hòa Thuận, Mũi Né, Kim Ngọc, Tầm Hưng và Lagi để tị nạn.
Sau hòa ước Giáp Thân (1884), tầng lớp quan lại, võ tướng, sĩ phu, khoa mục, hào kiệt… thuộc “Văn hào Thân sĩ ” gọi tắt là Văn Thân. Họ là những người thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, có đầu óc bài ngoại, phản đối hòa ước, hô hào chống Pháp [5]. Vì không đánh được quân Pháp nên họ quay sang sát hại người công giáo mà họ cho là theo Pháp. Các nhóm Văn Thân đi khắp nơi tiếp tục sát hại người công giáo, khiến nhiều giáo dân phải chạy vào Hàm Tân, Bà Rịa và Sài Gòn. Một số ít thoát được cuộc tàn sát nhờ quay sang gia nhập các nhóm Văn Thân [6].
Đó là gốc tích một số gia đình công giáo đã có trước khi Cha Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn đem người vào vùng Lagi lập Họ Tân Lý.
3/ Gia Đoạn Hình Thành.
Một vị quan Nam Kỳ tên là Đốc Phủ Nghiêm, được chính quyền Pháp cử ra Bình Thuận để dẹp phong trào Văn Thân. Ông là một người công giáo, có lòng đạo đức. Nhờ đó mà giáo dân có điều kiện để ổn định đời sống và xây dựng lại nhà thờ. Mặc khác, ông là người giỏi về quân sự, nên chẳng bao lâu, ông đã dẹp được các cuộc nổi dậy của phong trào Văn Thân. Lúc này, lương dân theo đạo rất nhiều vì họ nghĩ rằng, muốn không bị phạt họ phải theo đạo công giáo. Do đó, số tín hữu ngày càng tăng, Cha Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn lúc này đang ở Kim Ngọc, phải lo đi lập thêm nhiều xứ mới [7].
Họ Lagi - Tân Lý được chính thức thành lập vào khoảng năm 1885, do Cha Phanxicô Xaviê Huỳnh Ngọc Ẩn (Địa Phận Quy Nhơn) chiêu tập số giáo dân sống rải rác trong vùng Tam Tân gốc Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên chạy loạn và trốn bách hại, đến khai phá rừng hoang và canh tác làm ăn sinh sống [8].
An gặp an hân hoan ba chén
Nạn gặp nạn cảm mến thâm tâm.
Còn theo “Nam Kỳ Địa Phận”, khoảng năm 1884 – 1885, Cha Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn ( Bảy Ẩn ) đã đem hai gia đình có đạo ở Kim Ngọc [9] vào Lagi, còn tại đây thì đã có hai nhà có đạo gốc Quảng Bình tới đó từ trước [10], và có năm nhà ngoại giáo [11] cũng xin gia nhập đạo để giữ ruộng đất mà họ đã khai phá. Còn nhiều người khác thì không muốn theo đạo, sợ ở đây khó lòng nên đã di chuyển qua ở phía bên kia bờ tả sông Dinh. Cha Ẩn còn đem năm gia đình [12] mới theo đạo ở Vang Kê [13] (Khe Gà, Kê Gà) vào Lagi lập nghiệp. Tại Lagi, Cha Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn đã xin khẩn đất tại xóm Liên Trì nơi bờ tả sông Dinh, làng Tam Tân (Tân Quý, Tân Xuân,Tân Hoàng) [14], cất một nhà thờ, và năm sau thì lập nên làng riêng tên là Tân Lý [15].
Cũng theo tài liệu quí giá bằng chữ Hán còn được lưu giữ tại văn phòng Giáo xứ Tân Lý, cho biết như sau [16] :
a. Linh Mục Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn cùng với các viên chức địa phương đi khám đất. Văn bản được ký ngày 27 tháng 3 năm Thành Thái thứ Năm tức là năm 1893, Quý Tỵ[17].
b. Linh Mục Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn làm đơn xin khẩn ruộng hoang, được các viên chức xã Tam Tân thỏa thuận và làm tờ nhượng giao đất, ký ngày 12 tháng 10 năm Thành Thái thứ Năm tức là năm 1893, Quý tỵ.
c. Trước đó, để tránh sự tranh chấp về số đất mà Linh Mục Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ân khai khẩn, phủ Hàm Thuận (nay là Tỉnh Bình Thuận) làm tờ trát, truyền cho xã Tam Tân giao nhượng cho Linh Mục Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn bốn sở đất để khai khẩn nhằm thu hoa lợi. Tờ trát ký ngày 27 tháng 5 năm Thành Thái thứ năm tức là năm 1893, Quý tỵ.
d. Xã Tam Tân đồng ý cắt đất ấp Liên Trì, lập thành một thôn mới có tên là Tân Lý. Xã Tam Tân ký ngày 04 tháng 9 năm Thành Thái thứ bảy tức là năm 1895, Ất tỵ.
e. Lý trưởng thôn Tân Lý xin quan tỉnh cùng các tòa phê chuẩn và cấp một con dấu khắc tên : Lý Trưởng Thôn Tân Lý, để lập tên thôn mới.
f. Một Linh Mục người Pháp tên là Pierre Archimbaud (Cố Đức) cũng đã dẫn các viên chức địa phương đi khám đất để chịu thuế. Sự việc được ghi nhận ngày 25 tháng 9 năm Thành Thái thứ Bảy tức là năm 1895, Ất tỵ.
g. Đơn trưng khẩn và gắn thành bìađịa bộ (phân chia ranh đất) được tỉnh Bình Thuận cấp như sau:
Phía Đông : cận giáp Cây Dừa.
Phía Tây : cận giáp Suối Đá.
Phía Nam : cận giáp Hồ Tôm.
Phía Bắc : cận giáp Núi Đất.
Như vậy, về phương diện hành chính liên quan đến đất đai, tên gọi thôn Tân Lý đã được biết đến từ năm 1895 dưới thời vua Thành Thái. Một con dấu (triệt) bằng đồng, hình vuông còn được lưu giữ, chung quanh 4 cạnh có hàng chữ như sau : P. Bình Thuận, H. Hàm Tân, G. Phong Điền, V. Tân Lý; ở giữa có 5 chữ nho : Tân – Lý – Thôn - …Bản.
Tuy nhiên, về phương diện tôn giáo, danh xưng Họ đạo vẫn có tên gọi là : Họ Đạo Lagi. Một bức thư của Linh Mục Giuse Trần Hiếu Lễ gởi cho Đức Giám Mục QUINTON có ghi như sau : Village de Tân Lý (Lagi) được ký vào ngày 21 tháng 11 năm 1929. Một con dấu (triệt) bằng đồng, hình bầu dục còn được lưu giữ, chung quanh có hàng chữ như sau : Họ Công Giáo Lagi.
Ban đầu, Cha Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn cất một nhà thờ gần mé sông nơi động cát (mãnh đất ấy gọi là “giếng đụt” Bà Hạp, nay là chùa Tân Long)[18], mà chổ này không thông khí, độc địa, nên Cha đã dời vô phía trong gần rừng hơn, là chổ cất nhà thờ bây giờ [19]. Cha con đồng vui cộng cực, cùng nhau xây dựng, chung sức phá rừng, dỡruộng vì nơi đây toàn là rừng rú và thú dữ. Một trong những người cộng tác đắc lực của Cha Phanxicô Xaviê Huỳnh Công Ẩn là ông Tôma Võ Văn Cam.
Từ khi hình thành, Họ Lagi (Tân Lý) thuộc về Địa Phận Quy Nhơn, do các Linh Mục của Địa Phận chăm sóc mục vụ. Mãi đến năm 1909, Họ Lagi vẫn chỉ là một Họ lẻ của Giáo xứ Cùmi, thường xuyên thiếu vắng Linh Mục [20].
4/ Giai Đoạn Phát Triển
a/ Thuộc Địa Phận Sàigòn.
Bình Thuận, Đà Lạt nhượng Sàigòn
Lagi họ đạo rời Quy Nhơn.
Năm 1905, Đức Cha Damien GRANGEON(Hân) của Địa Phận Quy Nhơn nhượng cho Địa Phận Sài Gòn hai tỉnh: Bình Thuận và cao nguyên Đà Lạt[21]. Từ nay, Họ Lagi không còn thuộc Địa Phận Quy Nhơn nữa mà thuộc về Địa Phận Sài Gòn, các Cha thừa sai người Pháp (MEP) đã kiến thiết đầy đủ các cơ sở cần thiết, trở thành Họ Cùmi-Lagi, nơi nghỉ mát và săn bắn cho những ai có tính mạo hiểm xuống biển lên rừng.
Trong thời gian ở Họ, Cha Bảy Ẩn đã cho phá rừng, tạo mặt bằng thành ruộng, đó là các phần: Ruộng Đụt (Tân Long), Ruộng Cóc (khoảng 20 mẫu) từ giếng Đụt tới Hồvề khu nhà thờ hiện nay. Cha coi sóc Họ được vài năm rồi đổi đi. Bổn đạo thương mến nên hằng nhắc đến Cha luôn (1897).
Cha Thiên là cháu Cha Bảy Ẩn coi Họ khoảng 1 năm, kế đến Cha Boivin đổi lại coi Họ trong hai năm. Chừng giao lại cho Địa Phận Nam Kỳ (Sàigòn) thì, Cha Sao ở tại Cùmi cùng kiêm luôn Họ Lagi và Cùmi cửa (Bình Giã). Cha Sao muốn cho bổn đạo Họ Lagi lo nghiệp ruộng nương lại, song làm thử hai lần mà không khá cho nên bỏ qua [22].
Năm 1903, Linh Mục P.Guegnand (thường gọi Cha Lộc già) tiếp quản xứ, Ngài cử ông câu (thủ bổn) là: Ông Phêrô Nguyễn Văn Hiến trông nom nhà thờ và khai phá thêm ruộng đất. Thời gian này, Ngài đã cho dỡ thêm ruộng như: rọc Bưng Ngang; rọc Đất Thánh hay Bưng Ông; ruộng Bàu Dừng + Bàu Sen.
Bổn đạo hầu hết đều tốt, phần nhiều đã học lẽ đạo khá, Cha Lộc cũng lập trường dạy đồng nhi trong Họ. Số giáo dân lúc này khoảng 200 người [23]. Nhà thờ nhỏ và chật hẹp, không được tốt, nên Cha Lộc cũng lo làm nhà thờ mới cho rộng rãi và tốt hơn, song kế đó Cha phải đổi đi.
Năm 1912, Linh Mục David thế Cha P.Guegnand. Ngài chỉ trông coi Họ trong một thời gian ngắn.Năm 1913, Linh Mục Triễn thế Cha David. Ngài cũng chỉ chăm sóc mục vụ trong thời gian ngắn. Năm 1913, Linh Mục Henri Barré ( Cố Lê ) đến và ở trong vòng 2 năm.
Thời gian này, cộng đoàn Mến Thánh Giá Thủ Thiêm đến hiện diện tại Họ Lagi. Hai Dì tiên khởi là : Dì Út và Dì bảy Kỷ, công việc của các Dì là dạy Giáo lý và dạy vở lòng cho trẻ em.
Năm 1915, Linh Mục Phêrô Tuyên đến và quản xứ được một năm. Năm 1915, Linh Mục Giuse Trần Hiếu Lễ về quản xứ. Ngài cho lập Ban Chức Việc (Hội Đồng Mục Vụ) để cộng tác với Ngài trong việc xây dựng nhà thờ. Thành phần Ban Chức Việc gồm :
1. Ông Tôma Ông Võ Văn Cam (Câu Nhất)
2. Ông Phêrô Nguyễn Văn Hiến (Câu Nhì)
3. Ông Võ Phú (Biện Việc)
4. Ông Nguyễn Sửu (Biện Việc)
5. Ông Inhaxiô Võ Văn Giác (Biện Sở)
6. Ông Phêrô Nguyễn Hiếu Nghĩa (Biện Sở)
7. Ông Thành (Biện Sở)
8. Ông Huỳnh Văn Tòng (Biện Sở)
9. Ông Trần Văn Quảng (Quýnh) (Biện Sở)
Năm 1916, Ngài khởi công xây dựng nhà thờ mới trên phần đất hiện nay, quay mặt về hướng Đông. Ngày 12 – 12 – 1918, Đức Giám Mục Victor Charles QUINTON (TÔN) đã long trọng làm phép nhà thờ mới này và nhận thánh Giuse làm quan thầy của Họ đạo, lễ mừng kính vào ngày 19 – 3 hằng năm.
Cha Giuse Lễ cũng khẩn thêm ruộng đất cho Họ đạo như sau :rạch Hộ Tang (từ nhà ông Mười Chót đến đất anh Phạm Ngọc Thọ, gọi là đất vườn Dừa, khoảng 10 mẫu):vườn trái cây (nay là vườn dừa Út Nề). Khi đi, Ngài giao lại cho Họ đạo.
Năm 1929, Linh Mục Micae Nguyễn Văn Giàu đến thay thế Cha Giuse Trần Hiếu Lễ. Ngài tiến hành chỉnh tu cho Họ đạo thêm khang trang như : tân trang lại mái nhà thờ, xây trường học và kho lúa…Năm 1930, mua chuông (mỗi gia đình đóng 1 đồng tiền Đông Dương) trị giá 300đ.
Về ruộng đất, Ngài khẩn thêm : ruộng Láng Đá, từ bầu Xe Ủi tới dốc Bà Tân khoảng 40 mẫu; ruộng Cây Trâm lớn, nhỏ, trên bầu Xe Ủi lên tới Bà Tân khoảng 40 mẫu; đất thổ, xóm Gioan Baotixita Đá Dựng khoảng 10 mẫu; đất phó Mén, trước mặt xã Bình Tân hiện nay tới đất ông Phạm Ngọc Thọ khoảng 3 mẫu.
Như vậy, đến thời Cha Micae Nguyễn Văn Giàu, ruộng và đất của Họ Lagi khoảng 300 mẩu, nhưng hiện nay, chỉ còn khoảng 2 mẩu.
Họ đạo đang phát triển mạnh, Cha Micae Giàu chuẩn bị xây lại nhà thờ, chưa bắt đầu thì chiến tranh bùng nổ. Than ôi !
Mây sầu phủ kính trời xanh
Tiếng than chuyển rẩy thác ghềnh biển khơi.
Ngày 27 – 8 – 1945, quân đội Pháp đổ bộ vào Sở Dương, Cha Micae Nguyễn Văn Giàu và giáo dân trốn chạy lên rừng ẩn núp. Thời gian ngắn, Cha con đùm túm trở về làng. Quân Pháp nghi ngờ Cha theo Việt Minh và ra lệnh bắt Ngài, đưa về Phan Thiết cùng với 2 Dì Phước : Dì Tám bị trúng đạn chết dọc đường và được mai táng tại Phan Thiết, còn Dì Út chạy về đất đỏ Bà Rịa và cũng bị bắn chết[24], nhà thờ bị đánh sập.
Đoàn chiên mất chủ chăn, bơ vơ, lạc lỏng và hoảng sợ đi tản mác :người trốn đến vùng khác, kẻ lẽn vào rừng ẩn nấp, bỏ vườn trống nhà hoang. Trong thời gian này, giáo dân bị bắt và bắn chết rất nhiều. Ban Chức Việc Họ gồm 2 người: ông Trần Văn Quảng (Quýnh) và ông Tám Thạch. Khi thấy giáo dân bỏ chạy lên rừng, quân Pháp giận dữ bắn sập nhà thờ. Tất cả các đồ thờ phượngbị phá, chỉ còn lại cái chuông mà anh chị em đã can đảm mang theo vào rừng, và đó là di tích quí nhất của Giáo xứ Tân Lý hiện nay đang sử dụng.
Giáo xứ tan hoang, Linh Mục bị bắt, giáo dân bị phân sáp (chia vào sống cùng lương dân ở các làng chung quanh), nhưng tinh thần theo Chúa vẫn nồng nhiệt, niềm tin Chúa càng sáng chói. Giáo xứ mồ côi chủ chăn, tuy nhiên vẫn vững vàng tiến lên với Ban Chức Việc, gồm các ông: Phêrô Nguyễn Văn Dần, Giuse Nguyễn Văn Khoẻ, Phêrô Nguyễn Văn Tín, … Các ông cố gắng qui tụ anh chị em giáo dân và kiên trì hướng dẫn đời sống đạo đức trong thời gian kháng chiến.
Thăng trầm thế sự đảo điên
Cuộc đời tan biến đức tin vẫn còn.
Năm 1947, dưới sự hướng dẫn của Ban Chức Việc Họ, anh chị em đã tạm dựng một nhà nguyện bằng lá, toạ lạc tại khu đất Tổng Hân để có nơi chốn thuận lợi cùng nhau nguyện kinh sáng tối. Để giúp đỡ Ban Chức Việc Họ, anh chị em đã đề cử thêm 3 người để cùng cộng tác : ông Phêrô Nguyễn Văn Thích, ông Huỳnh Gia, ông Giuse Đặng Văn Cậy.
Năm 1948, Linh Mục Phêrô Nguyễn Bá Luật vượt qua gian nan nguy hiểm về thăm giáo dân. Ngài an ủi, vỗ về, khuyên bảo, động viên anh chị em giáo dân, tuy sống trong cảnh chiến tranh và áp bức, người tín hữu Chúa Kitô của Họ đạo đã tỏ ra bén rễ sâu trong niềm Tin Cậy Mến. Những ngày lễ lớn như: Noel, Phục Sinh… đã được tổ chức mừng kính cách long trọng và đầy lòng sốt sắng.
Đêm đêm vẫn có anh chị em giáo dân tìm về khu vườn, mảnh ruộng để canh tác, ngày lại trốn lên rừng. Hoàn cảnh giữ đạo cũng rất khó khăn, vì vắng Linh Mục, lại trốn tránh từng khu xa cách nhau, nên việc kinh lễ thật bất tiện. Trước tình hình đó, Ban Quý Chức Họ hội ý với anh chị em giáo dân, quyết định dời nhà thờ về Bàu Sót, nhưng nhà Chúa toạ lạc nơi đây vẫn không ổn, vì nhà thờ đã ba lần xây dựng thì ba lần bị quân Pháp càn quét, đốt phá tan tành. Trong hoàn cảnh đó, giáo dân buộc phải :
Ngày trốn đêm làm chờ tái thiết
Tai qua nạn hết lại hồi cư.
Năm 1953, chiến tranh Pháp – Việt phần nào bớt khốc liệt, giáo dân ngày thì ẩn núp, đêm thì trở về đồng ruộng cấy cày.
Năm 1954, hiệp định Gernève được ký kết, chiến tranh tạm lắng, giáo dân lần lượt trở về lại từng mảnh vườn thửa ruộng của mình để canh tác. Số giáo dân lúc này khoảng 500 hoặc 600 tín hữu.
Tháng 10 – 1954, Linh Mục Alber Troger được cử đến coi sóc Họ đạo Lagi. Đặt chân đến cánh đồng truyền giáo vừa lâu đời, vừa mới mẻ này, Cha Troger bắt tay ngay vào việc tông đồ, với một đàn chiên đang ngơ ngát vì những kinh hoàng của chiến tranh và một cơ sở đổ nát tiêu tan, Cha suy tính làm gì cho Giáo Hội Chúa ! Lễ Giáng Sinh năm đó thật là tưng bừng, cái tưng bừng của kẻ hồi sinh, náo nức, hồ hởi, hưng phấn, cùng với cảm động dâng tràn trong tiếng hát “đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời”. Nhà thờ bằng lá, bằng rạ của Bàu Sót sao giống hang đá nghèo hèn và đơn sơ của hang lừa và máng cỏ, nơi cách đó 1954 năm, Đức Giêsu đã giáng sinh làm người.
Ngài bắt tay canh tân Họ đạo, chuẩn bị vật liệu để xây dựng lại nhà Chúa, mời các Linh Mục Dòng Chúa Cứu Thế về làm tuần đại phúc để dạy giáo lý, hợp thức hóa các đôi hôn phối và rửa tội cho các em đã lớn tuổi… Nhờ vậy, giáo dân mới dần dần đi vào nếp sống đạo hẳn hoi, có qui củ, một luồng sinh khí mới bắt đầu thổi vào Họ đạo Lagi.
Cũng trong thời điểm này, Họ Lagi được nâng lên hàng Giáo xứ với tên gọi là : Giáo Xứ Tân Lý.
Tháng 7 – 1955, Linh Mục Phaolô Phan Tùng Lộc đến thay thế Linh Mục Alber Troger. Với tư cách là Linh Mục chính xứ, Cha Phaolô Lộc đã cho áp dụng ngay biện pháp kỷ cương để rèn luyện và xây dựng Giáo xứ.
Xin ghi thêm rằng, năm 1945, nhà thờ Giáo xứ bị bắn sập, các đồ thờ phượng bị thiêu hủy hoặc thất lạc, đáng kể nhất là chiếc “ Hào Quang ” cũng bị thất lạc. Nhưng thật may mắn, cuối năm 1955, ông Phêrô Nguyễn Văn Thích đi chầu lượt ở Tầm Hưng, nhận biết rõ chiếc hào quang có đặt Thánh Thể mà ông đang chầu đúng là của Giáo xứ Tân Lý bị thất lạc vào thời loạn ly. Do đó, Cha Phaolô Phan Tùng Lộc đã biên thư, sai ông Tám Út ra nhận và đem hào quang ấy về. Hiện nay, Giáo xứ vẫn đang sử dụng.
Để đáp ứng nhu cầu mục vụ, Cha Phaolô Lộc bắt tay vào việc xây dựng nhà Chúa, công trình đang bắt đầu dỡ dang, mới xây xong bốn bức tường thì Ngài được bài sai đổi đi nơi khác.
b/ Thuộc Địa Phận Nha Trang
Ngày 05 – 7 – 1957, Đức Thánh Cha Piô 12 ký tông sắc thành lập Giáo Phận Nha Trang gồm 4 tỉnh : hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận trước đây thuộc Địa Phận Quy Nhơn; hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy trước đây thuộc Địa Phận Sàigòn. Giáo Hội cử Đức Giám Mục Marcel PIQUET (Lợi) làm Giám Mục tiên khởi Giáo Phận mới này.
Tháng 11 – 1957, Linh Mục Joseph Viot (Nhơn) vâng lệnh bề trên về nhận chức chính xứ Tân Lý, Ngài tiếp tục xây cất Thánh Đường và hoàn tất vào năm 1958. Cuối năm 1958, Ngài cũng xây xong nhà xứ. Vào thời điểm này, số giáo dân khoảng chừng 400 người.
Ngài nhận một số anh chị em di cư nhập xứ, cấp đất cho họ khai phá làm ăn, thành xóm Thanh Hương (nay là Giáo họ Phanxicô Xaviê), góp phần làm phồn thịnh vui vẻ cho Giáo xứ. Ngài cũng tiếp nhận 70 giáo dân nhập xứ, nay là xóm Micae, cho họ vỡ ruộng từ nhà ông Mười Cồ đến nhà ông Mân.
Vừa mới cử hành thánh lễ tạ ơn hai cơ sở lớn và chính yếu của Giáo xứ, Cha đã vội vàng rời xứ theo ý của Đấng Bản Quyền.
Đầu năm 1960, Toà Giám Mục Nha Trang cử Linh Mục Guérard Moussay (Phú) quản xứ Tân Lý. Đặt chân đến cánh đồng truyền giáo mới, Ngài chú tâm đem Tin Mừng đến cho dân ngoại, nên có thêm nhiều người gia nhập đạo, đồng thời Ngài cũng cảnh tĩnh những tín hữu còn thờ ơ, nguội lạnh với việc đạo đức chung của Giáo xứ. Song song với việc tinh thần, Ngài còn xây trường học, nhà Dì Phước và cho tu bổ lại các cửa của nhà thờ. Trong thời gian này, nhà cầm quyền thiết lập các ấp chiến lược, chính vì thế, các gia đình phải bỏ các khu vườn của họ ven rừng, tập trung thành từng xóm, sống gần nhau để dễ quản lý và bảo vệ nhau. Năm 1961, Ngài cũng lo việc truyền giáo ở dinh điền Hiệp Nghĩa, nên có thêm các Linh Mục phụ tá như : Linh Mục Jean Hirigoyen (Hương) từ tháng 5 – 1961 đến tháng 01 – 1962; Linh Mục Charles Nédelec (Đề) từ tháng 01 – 1962 đến tháng 6 – 1962.
Tháng 6 – 1962, Linh Mục Rôcô Vũ Đình Hoạt được cử đến làm chính xứ Tân Lý. Cha Rôcô coi sóc Tân Lý chỉ vỏn vẹn được 8 tháng mà Ngài đã đôn đốc dựng một tháp chuông bằng gỗ cao 6 mét để treo cái chuông lớn – một trong hai di tích còn lại của Giáo xứ Tân Lý [25]. Cha hướng dẫn giáo dân cách thức trồng Laghim – trồng rau – một nghề đã và đang phát triển mạnh, lợi nhuận nhiều cho giáo dân Tân Lý nói riêng và cho các vùng lân cận nói chung.
Tháng 02 – 1963, Linh Mục Roger Delsuc (Sáng) thay thế Linh Mục Rôcô Vũ Đình Hoạt, quản xứ Tân Lý. Ngài coi xứ được sáu tháng thì đổi đi.
Tháng 9 – 1965, Linh Mục Phêrô Lê Quang Diễn được cử làm chính xứ Tân Lý. Là một Linh Mục trẻ trung, nhiệt huyết, hoạt bát, việc đầu tiên Ngài làm là củng cố lại Ban Hành Giáo để có người cộng tác trong việc điều hành Giáo xứ. Ngài cho lập hội Lêgiô Mariae; sắp xếp lại các giấy tờ, văn thư có liên quan đến ruộng đất nhà chung; xây nhà bếp, các chuồng trại để chăn nuôi heo gà, lập vườn và rào dậu chung quanh khuôn viên Nhà Thờ, nhà Xứ; mua máy phát điện để thêm thuận lợi trong các công tác và sinh hoạt của Giáo xứ; can thiệp với chính quyền để mở mang đường sá cho dân - như đường ra nghĩa trang Tân Lý – làm hệ thống kênh mương; mạnh mẽ áp dụng kỷ luật làm cho Giáo Xứ có trật tự và kỷ cương hơn; xây tượng đài Đức Mẹ với lối kiến trúc mới, xây hội trường… làm cho Giáo xứ có bộ mặt khang trang. Đặc biệt, Ngài có công trong việc tổ chức Đại Hội Thánh Thể cho toàn hạt Bình Tuy tại Tân Lý.
Hơn 38 năm phục vụ Dân Chúa tại Giáo Hội Việt Nam, 9 năm cai quản Giáo Phận Nha Trang, ngày 04 – 7 – 1966, Đức Giám Mục Marcel PIQUET (LỢI) đã qua đời. Sau gần một năm trống Tòa, ngày 04 – 6 – 1967, Tòa Thánh đặt Đức Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận – Giám Mục người Việt Nam tiên khởi Giáo Phận Nha Trang - làm Giám Mục chính Tòa Giáo Phận Nha Trang :
Tam bách chu niên tiên Giám Mục
Thiên lao vạn khổ đáo Nha Trang
Tháng 9 – 1967, Linh Mục Phêrô Thái Quang Nhàn nhận chính xứ Tân Lý, Linh Mục Phêrô Lê Quang Diễn được cử về làm Cha giáo tại trường Chính Tâm Phan Thiết – trường PTTH Chuyên Trần Hưng Đạo – Phan Thiết ngày nay.
Thời gian này, kinh tế trong vùng Bình Tuy đã tiến triển khá, giao thông thuận tiện, giáo dân làm ăn phát đạt, đua nhau xây nhà tôn, nhà ngói hầu hết. Theo đà tiến chung, Cha xứ cũng lo xây hồ nước, chỉnh trang lại trong xứ đủ tiện nghi hơn. Ủy ban ruộng đất được thành lập để lo việc kiến thiết và chăm sóc ruộng đất. Năm 1969, Ngài xây nhà nguyện Họ Đá Dựng. Năm 1970, Ngài thành lập họ tân tòng Tân Long và xây nhà nguyện. Ngài ban Bí Tích Rửa Tội cho nhiều người mới nhập đạo. Xứ đạo sinh hoạt điều hòa theo kịp đà tiến của các Giáo xứ trong Hạt. Qua các lớp tập huấn, giáo dân tích cực tham gia vào các công việc của Giáo xứ. Mùa hè 1971, nhờ sự đóng góp tích cực của giáo dân, Giáo xứ đã hoàn thành ngôi trường sơ cấp rộng lớn và khang trang.
Công cuộc chỉnh trang trong Giáo xứ tạm ổn, Ngài cho lập các hội đoàn như : Con Đức Mẹ, Hùng Tâm Dũng Chí, Gia Trưởng, Hiền Mẫu… Để tiện việc quản lý, Ngài tiến hành chia Giáo xứ thành 8 Giáo Xóm : Giuse, Tôma, Phêrô, Antôn, Phaolô, Micae, Gioan Baotixita và Phanxicô Xaviê.
Tháng 7 – 1972, Linh Mục Giuse Hoàng Phượng được cử làm chính xứ Tân Lý, thay thế Linh Mục Phêrô Thái Quang Nhàn. Ngài xây nhà để xe tang, mua máy âm thanh trong nhà thờ.
Ngoài những công tác thuần túy tôn giáo thường nhật, Cha Giuse Hoàng Phượng còn quan tâm, lo lắng đến vấn đề ruộng đất nhà chung mà Giáo xứ đang quản lý và sử dụng. Ngài tiến hành gởi văn thư đến các cơ quan chức năng để xin hợp pháp hóa và khai chủ quyền ruộng đất, vì có một số giấy tờ, lai lịch nguồn gốc đất đã bị thất lạc từ lâu.
Cũng trong thời điểm này, Ngài trù tính bán đứt một số lớn ruộng đất nhà chung cho các tín hữu tá điền canh tác - thực thi luật 03/70 “ người cầy có ruộng ” của chính quyền lúc bấy giờ - để có ngân khoản kiến thiết và trùng tu các cơ sở của Giáo xứ. Tuy nhiên, không biết vì nhân tố hay nguyên do nào làm cản trở, Ngài không thể thực hiện được phương kế đã hoạch định.
Vì tuổi già sức yếu, Đấng Bản Quyền đã cho phép Ngài hưu dưỡng tại nhà riêng ở Giáo xứ Tân Lập (Tân Thiện).
Ngày 04 – 8 – 1974, Linh mục Phanxicô Assisi Nguyễn Cao Cầu được cử đến làm chính xứ Tân Lý. Nhận nhiệm sở xong, Ngài liền áp dụng “Quy chế giáo dân” làm nền tảng hoạt động cho Giáo xứ. Ngài khẩn trương mở các lớp tập huấn giáo dân về vai trò và trách vụ của người tín hữu, theo định hướng của Công Đồng Vaticanô II “ Người giáo dân phải đóng vai trò hàng đầu trong việc tông đồ”. Trên tinh thần đó, Ngài luôn luôn lưu ý vai trò và trách nhiệm của người giáo dân trong giai đoạn mới. Ngài nhắc nhỡ rằng : Giáo xứ là của giáo dân, các tín hữu phải quản trị Giáo xứ mình thông qua các thành viên của Hội Đồng Mục Vụ Giáo xứ mình. Do đó, Hội Đồng Mục Vụ, các Ủy viên Giáo họ... phải tích cực dấn thân vào mọi công việc chung của Giáo xứ”.
Vì là một Linh Mục trẻ trung, hoạt bát, đặc biệt là rất chú tâm đến giới trẻ, Ngài đã khuyến khích, động viên các tổ chức giáo dục và thăng tiến con người trong hai lãnh vực Đạo và Đời. Vì vậy, trong thời điểm này, các hội đoàn như : Con Đức Mẹ, Hùng Tâm Dũng Chí, Lêgiô… đua nhau hoạt động tông đồ và phát triển rất mạnh.
Song song với những sinh hoạt về tinh thần, Ngài cũng lo lắng đến các cơ sở vật chất như : dựng lại tháp chuông, trùng tu trường học, xây cất và thành lập viện cô nhi, dự tính xây dựng lại thánh đường…
Mọi phương án đang được trù liệu và sắp xếp, thì ngày 07 – 04 – 1976, chính quyền đương thời đưa Ngài đi khỏi Xứ Tân Lý để “học tập cải tạo”. Từ đó, Giáo xứ không có Linh Mục nào khác thay thế. Đến ngày 18 – 12 – 1982, sau hơn 06 năm “học tập tốt”, Cha Phanxicô Assisi Cầu được trả tự do về chung sống với mẹ già tại Giáo xứ Tầm Hưng, quê hương Ngài, và không được phép đi coi xứ nào khác nữa cho đến ngày tạ thế 02 – 6 – 1991, lúc 2g sáng.
Nhìn chung, từ năm 1955 đến năm 1975, là thời gian tương đối ổn định, do sinh kế làm ăn, người từ các phương xa đến Giáo xứ Tân Lý lập nghiệp, một số tân tòng và con em trong Giáo xứ lớn lên, lập gia đình riêng, nên số giáo dân tăng lên khoảng 1.400 người.
c/ Thuộc Địa Phận Phan Thiết
Ngày 30 – 01 – 1975, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ký Tông Sắc thành lập Giáo Phận Phan Thiết, gồm 2 tỉnh : Bình Tuy và Bình Thuận thuộc Giáo Phận Nha Trang, và đặt Đức Giám Mục Nicôlas Huỳnh Văn Nghi làm Giám Mục tiên khởi Giáo Phận Phan Thiết.
Từ ngày Cha Phanxicô Assisi Cầu ra đi, Xứ Tân Lý không có Linh Mục thay thế. Do đó, Thầy Phêrô Nguyễn Xuân Anh, trên cương vị là Thầy Giảng phụ trách Xứ, phải đến các Xứ lân cận để xin các Linh Mục đến dâng thánh lễ cho giáo dân Tân Lý. Trong số các Linh Mục đến dâng thánh lễ cho Giáo xứ, phải kể đến các Cha già như : Cha Giuse Hoàng Phượng, Cha Augustinô Vũ Quang Huân …mặc dù đã hưu dưỡng, nhưng mỗi lần Giáo xứ Tân Lý đến nhờ dâng lễ, các Ngài luôn sẵn sàng, không ngại tuổi cao, bệnh tật, nắng mưa. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, chính quyền còn gây khó khăn cho các Linh Mục, nên thánh lễ ngày Chúa Nhật tuần có tuần không, giáo dân phải đến các Xứ lân cận tham dự thánh lễ.
Ngày 02 – 6 – 1977, Thầy Giảng Phêrô Xuân Anh cũng bị gọi đi học tập. Sau 46 tháng học tập tốt, Thầy được trả về xứ Tân Lý. Việc đầu tiên, Thầy đích thân mở cửa thánh đường Giáo xứ để giáo dân lui tới đọc kinh cầu nguyện sáng tối. Đau lòng thay ! lúc này có một số giáo dân đã trở nên thờ ơ, nguội lạnh với các sinh hoạt đạo đức vì đã bỏ kinh lễ lâu năm. Bên cạnh đó, nhiều đôi hôn phối lấy nhau không hợp luật Giáo Hội.
Trước tình cảnh đó, Thầy Giảng luôn cố gắng tạo mọi cơ hội và điều kiện thuận lợi như mời các Linh Mục về cử hành lễ Cưới, lễ Giỗ, lễ An Tang…để giáo dân tham dự. Đồng thời hướng dẫn và dạy giáo lý cho trẻ em trong xứ. Kết quả, ngày 15 – 08 – 1981, vào dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, 53 em được xưng tội rước lễ lần đầu do Linh Mục Giacôbê Lê Đức Trung chính xứ Bình An cử hành, mặc dù việc dạy giáo lý lúc này là rất khó khăn trở ngại. Ngày 15 – 8 – 1982, có thêm 26 em được xưng tội rước lễ lần đầu. Đầu năm 1983 và các năm kế tiếp sau đó, Thầy Phêrô Xuân Anh đã đào tạo được một số giáo lý viên để giúp Thầy trong việc dạy giáo lý cho trẻ em, và mục đích xa hơn là có thêm nhân sự nồng cốt, ưu tú để cộng tác với Giáo xứ trong việc giáo dục đức tin cho con em trong Xứ.
Vào khoảng tháng 3 – 1983, vâng lời Bề Trên, Linh Mục Giacôbê Lê Đức Trung chính xứ Bình An đã kiêm nhiệm luôn Giáo xứ Tân Lý. Vào mỗi ngày chúa nhật và các ngày lễ trọng trong năm, Ngài đều đến Tân Lý để cử hành thánh lễ và ban các Bí Tích cần thiết cho giáo dân. Ngoài ra, các ngày thường Cha cũng đến để cử hành các lễ theo nhu cầu. Những lúc khỏe mạnh, Ngài thường xuyên về Tân Lý để xem xét, đôn đốc các sinh hoạt và hoạt động của Thầy Anh và Hội Đồng Mục Vụ. Đồng thời, Ngài thường xuyên đi thăm viếng, an ủi và xức dầu cho các bệnh nhân trong Xứ.
Nhà thờ, nhà xứ dần xuống cấp, nhà trường vẫn bị nhà nước trưng dụng nên các em phải học giáo lý trong nhà thờ. Tháng 12 – 1980, giáo dân dựng đài thánh Giuse trước cửa nhà thờ, Cha Giacôbê Lê Đức Trung bị nhà nước khiển trách và không cho Ngài đi tỉnh huấn Linh Mục tại Giáo Phận. Thời gian khó khăn, hạn chế kéo dài cho mãi tới năm 1988 trở đi mới được nới rộng.
Ngày 20 – 12 – 1985, toàn thể Giáo xứ mừng kỷ niệm 100 năm thành lập. Qua một thế kỷ hình thành và phát triển, Giáo xứ Tân Lý có 422 gia đình công giáo, 2188 nhân danh.
Ngày 9 – 9 – 1990, Cha Giuse Nguyễn Việt Huy được Đức Cha Nicôla Huỳnh Văn Nghi, Giám Mục Giáo Phận Phan Thiết, bổ nhiệm làm chánh xứ Tân Lý. Thánh đường cũ được trùng tu từ năm 1955 đã xuống cấp, nhỏ và chật hẹp, nhà trường thì nhà nước vẫn đang quản lý, các cơ sở khác không có, công trình xây dựng thánh đường mới quá lớn, chưa thể thực hiện ngay được, cũng là gánh nặng cho Cha tân quản xứ.
Với sự trẻ trung và lòng nhiệt thành của Cha quản xứ, Giáo xứ tuần tự xây dựng, kiến thiết và phát triển rất nhiều mặt :
Năm 1996, xây nhà ở cho các Nữ tu, 2 phòng học mẫu giáo và giáo lý.
Năm 1997, xây thêm 4 phòng học giáo lý.
Sau thời gian dài chuẩn bị, ngày 24 – 04 – 1997, Đức Cha Nicôla Huỳnh Văn Nghi cử hành thánh lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng thánh đường mới.
Ngày 16 – 6 – 1997, toàn thể Giáo xứ khởi công đào móng.
Ngày 30 – 12 – 1999, Đức Cha Nicôla Huỳnh Văn Nghi cắt băng khánh thành và cử hành thánh lễ cung hiến nhà thờ và bàn thờ.
Ngày 09 – 9 – 2000, khánh thành nhà xứ.
Ngày 30 – 12 – 2000, hoàn chỉnh khu vực phía sau nhà xứ.
Ngày 26 – 5 – 2002, Đức Giám Mục Phó Phaolô Nguyễn Thanh Hoan chủ sự nghi thức khánh thành Đài Đức Mẹ.
Các công trình kiến thiết tương đối đầy đủ, khuôn viên nhà thờ rộng rãi, khang trang, lối đi xung quanh rợp bóng cây mát mẽ, tạo khung cảnh nên thơ của đồng quê Tân Lý.
Để việc tông đồ giáo dân phát triển đồng đều và đạt hiệu quả tốt, các hội đoàn dần dần được hình thành trở lại : Bà Mẹ Công Giáo; Lêgiô Mariae; Gia Trưởng; Thanh Niên; Thiếu Nhi Thánh Thể; Têrêsa; Ca Đoàn…
Hội Đồng Mục Vụ được hoàn chỉnh, gồm những thành phần trẻ trung, hăng hái và đạo đức, là cánh tay phải của Cha xứ, nên việc điều hành rất thuận lợi và hữu hiệu.
Về đời sống đạo đức và truyền giáo : cộng đoàn luôn được Cha quản xứ nhắc nhở, rèn luyện đức tin, tinh thần đoàn kết yêu thương và hiệp nhất, nên bầu khí Giáo xứ bình an, vui tươi và thắm tình huynh đệ. Hội Đồng Mục Vụ Giáo xứ, các giới, các đoàn thể, ban nghành… luôn tích cực, hăng say, nhiệt thành tham gia mọi công tác, sinh hoạt mục vụ tông đồ. Mỗi người đều cố gắng thể hiện tinh thần cởi mở, hiền hòa, hiếu khách, hòa đồng, không phân biệt lương hay giáo, đạo hay đời, nhờ đó mà anh em lương dân ngày càng có thiện cảm với cộng đoàn Giáo xứ hơn.
Ngoài việc giáo dục đức tin, Cha xứ còn khuyến khích các em trong Giáo xứ dâng mình cho Chúa, nên các em dự tu thường xuyên được huấn luyện đều đặn vào mỗi tối Chúa Nhật.
Số giáo dân trong giáo xứ (2005) khoảng 5195 người, 1334 gia đình công giáo, chia làm 9 Giáo họ. Số thành viên trong các đoàn thể như sau : Gia Trưởng : 1053 người; Bà mẹ : 748 người; Thanh niên : 676 bạn; Thiếu Nhi : 1082 em; Giáo Lý Viên : 22 người; Huynh Trưởng : 98 người; Ca Đoàn : 63 ca viên; Lễ Sinh : 20 người…
Sau 14 năm phục vụ Giáo xứ, ngày 14 – 5 – 2004, Cha Giuse Nguyễn Việt Huy được thuyên chuyển đến Giáo xứ Tân Châu, hạt Hàm Tân,
Cha Phêrô Nguyễn Huy Hồng đến nhận Giáo xứ Tân Lý 15-5-2004. Ngài hoàn thiện cơ sở vật chất lẫn tinh thần. Tháng 3 – 2005, Cha cho xây tường rào bao bọc đất thánh, tường dài khoảng 1.500m bao bọc khu đất thánh và khu đất trồng cây của nhà thờ rộng trên 5ha, đồng thời xây trên 300 ngôi mộ không có người chăm sóc, một sân lễ tại đất thánh. Năm 2006, xây nhà Cha phó. Tháng 9 – 2008, đổ bê tông các sân xung quanh nhà thờ. Ngày 20/4/2009 cha Phêrô Nguyễn huy Hồng được bề trên đổi đến giáo xứ Vô Nhiễm hạt Võ Đắt.
Ngày 22/4/ 2009, Cha Giuse Nguyễn Kim Anh nhận chính xứ Tân Lý. Cùng với giáo dân Tân Lý ngài xin mở năm thánh Tân Lý 2010 và được Tòa Thánh chấp nhận trong văn thư Prot 224/20/I và Khai mạc vào ngày 20/3/2010. Để chuẩn bị Năm Thánh, Tân Lý tu sửa nhà thờ, sơn lại mái ngói, cửa nhà thờ Tân Lý, làm sân nhà thờ Tân Long, xây bờ kè ruộng Đức Mẹ…Phụng vụ trong tuần được trao cho các giáo họ luân phiên đảm trách, phục hồi việc ngắm 15 sự thương khó. Về giáo dục đức tin, đóng thêm bàn ghế cho các lớp giáo lý, chỉnh đốn các khối lớp.Về khuyến học, phát vở cho học sinh trong xứ, phát quà cho học sinh lương nghèo tại các trường trong phường .Về truyền giáo giao hảo với anh em lương dân, mời họ tham dự lễ gia tiên …Về bác ái chú trọng quà cho người nghèo trong các dịp lễ.
5/ Chung Lời Tạ Ơn
Nhắc lại 125 năm hình thành và phát triển Giáo xứ, chúng ta không khỏi cảm động, biết ơn, hãnh diện và tin tưởng :
Cảm động vì trên khắp vùng lãnh thổ ta sống hôm nay, đâu đâu cũng ghi dấu bước chân của các vị thừa sai, các Linh Mục bản xứ… đem Tin Mừng đến cho chúng ta, giữa bao hiểm nguy. Cảm động khi thấy cảnh núi rừng rậm rạp ghi dấu những ngày cha ông chúng ta lẫn trốn.
Biết ơn vì Mẹ Giáo Hội đã sai các nhà truyền giáo đến mảnh đất Tam Tân xa lạ để loan Tin Mừng. Chúng ta biết ơn các vị tông đồ truyền giáo thuộc nhiều dòng Tu như : dòng Tên, dòng Đaminh, dòng Phanxicô, dòng Augustinô…đặc biệt là Hội Thừa Sai Pháp (MEP). Chúng ta ghi ơn các vị tiền nhân đã hi sinh để bảo vệ và gìn giữ đức tin trên mảnh đất Tân Lý này.
Hãnh diện và đáng hãnh diện thật ! có phải hãnh diện vì có thánh đường khang trang, cơ sở đồ sộ ? có phải hãnh diện vì giáo dân đông đúc ? Không, sức mạnh của Hội Thánh không căn cứ vào vật chất, cũng không căn cứ vào số lượng, nhưng chúng ta hãnh diện vì Thánh Giá Đức Kitô, vì lòng trung thành của cha ông ta ngày trước với Hội Thánh, vì nếp sống đạo sốt sắng, vì đức tin vững vàng không lây động trước cái chết, vì chí can đảm sống đạo và truyền đạo cho mọi người, vì đã trưởng thành nhận lấy vai trò chiến sĩ của mình hợp tác và thay thế khi không có Linh Mục.
Tin tưởng không phải ở sức mạnh, tài năng của chúng ta mà ở Ơn Chúa hằng ở cùng Hội Thánh. Trãi qua bao thử thách, những tưởng Giáo xứ sẽ bị tiêu diệt vĩnh viễn, nhưng “ơn Chúa hằng đủ cho ta”, chúng ta có các Linh Mục thánh thiện, sốt sắng, hi sinh; có các giáo dân đoàn kết, lãnh lấy trách nhiệm sống đạo, dạy đạo, quản trị, truyền đạo thay cho các Linh Mục. Tất cả Họ đều tin tưởng vào ơn Chúa, ở sức Chúa, ở Lời Chúa. Giờ đây, trong thời đại duy vật, lắm lúc chúng ta tìm sự dễ dãi của thế gian mà quên đi những giá trị của Nước Trời. Dù khó khăn đến đâu, chúng ta cũng phải cố gắng bảo vệ hạt mầm Tin Mừng mà cha ông chúng ta đã tiếp nhận trên mảnh đất Tân Lý thân yêu này.
Hãy nhìn quá khứ với tất cả lòng khâm phục tạ ơn.
Hãy nhìn hiện tại với tất cả ý chí tìm kiếm không ngừng.
Hãy nhìn tương lai với tâm hồn hăng say tin tưởng.
Không phân biệt Bắc - Trung - Nam, đạo dòng hay tân tòng, mỗi người giáo dân Tân Lý phải một lòng tôn thờ Thiên Chúa, kính mến Đức Mẹ và noi gương thánh Giuse quan thầy; từng ngày cố gắng đi lên trong đức tin, nâng đỡ, tìm hiểu và giúp nhau thăng tiến trong đường đạo đức và thánh thiện.
Nhờ Năm Thánh Đức Mẹ Tapao 2009, Năm Thánh 2010 Giáo hội Việt Nam và nhất là Năm Thánh Tân lý chắc chắn Tân Lý cũng như các giáo xứ khác trong giaó phận Phan Thiết sẽ đạt được nhiều tăng trưởng mọi mặt trên mọi bình diện !
Tài Liệu Tham Khảo
1. Nam Kỳ Địa Phận, năm thứ 14, 1922, Sàigòn.
2. Đạo Thiên Chúa Giáo Vào Việt Nam, Nguyễn Văn Kiệm, Tôn Giáo, 2001.
3. Kỷ Yếu Địa Phận Nha Trang, Sàigòn, 1971.
4. Giám Mục Người Nước Ngoài, Lê Ngọc Bích, Tôn Giáo, 2009.
5. 25 Năm Thành Lập Giáo Phận Phan Thiết.
6. Bản dịch chữ Hán, lưu tại văn phòng Giáo xứ Tân Lý.
7. Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn Bình Thuận, Nguyễn Đình Đầu, Tp.hcm, 1996.
8. Thuận Nghĩa, Quê Hương Thánh Vũ Đăng Khoa, Lê Quang Hưng, 2005.
9. Các Họ Đạo Cổ Xưa Của Giáo Phận Phan Thiết, Lm. Phêrô Hoàng Vĩnh Linh.
10. Các Vị Tử Đạo Giáo Phận Phan Thiết-Bình Thuận, Lm. Phêrô Hoàng Vĩnh Linh.
11. Niên Giám Giáo Hội Công Giáo Việt Nam 2005.
12. Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo, Lm. Bùi Đức Sinh, tái bản 1999.
13. Lược Sử Giáo Hội Việt Nam, Lm. Aug Nguyễn Văn Trinh, xb 1990.
14. Chuyên mục “ Lagi, Vùng Đất Tụ Nghĩa” phát sóng ngày 28 – 8 – 2009.
15. Bản Kỷ Yếu viết tay của Cha Phêrô Nguyễn Xuân Anh.
16. Bản Kỷ Yếu viết tay của ông Giuse Hồ Xuân Hiên
17. Bản Kỷ Yếu viết tay của Giáo xứ Tân Lý.
[1] Số liệu thống kê năm 2009, chuyên mục “ Lagi, Vùng Đất Tụ Nghĩa” phát sóng ngày 28 – 8 – 2009.
[2] Số liệu thống kê năm 2005, lưu tại văn phòng Giáo xứ Tân Lý và Tòa Giám Mục Phan Thiết.
[3] x. Kỷ Yếu Địa Phận Nha Trang, Sàigòn, 1971, trg 86.
[4] x. Sự Du Nhập Của Đạo Thiên Chúa Giáo Vào Việt Nam, Nguyễn Văn Kiệm, Tôn Giáo, 2001, trg 80.
[5] x. Sự Du Nhập Của Đạo Thiên Chúa Giáo Vào Việt Nam, Nguyễn Văn Kiệm, Tôn Giáo, 2001, trg 84.
[6] x. Nam Kỳ Địa Phận, năm thứ 14, 1922, Sàigòn, trg 139.
[7] x. Nam Kỳ Địa Phận, năm thứ 14, 1922, Sàigòn, trg 250.
[8] x. Kỷ Yếu Địa Phận Nha Trang, Sàigòn, 1971, trg 125.
[9] Một trong hai gia đình ấy là gia đình ông Tôma Võ Văn Cam, bố ông Phêrô Võ Thái Sang ( Phó Bộ )
[10] Một trong hai gia đình ấy là gia đình bà Matta Lê Thị Lai, mẹ vợ của ông Lý Niệm
[11] Một trong năm gia đình ấy là gia đình ông Lý Niệm, bố của ông Phêrô Nguyễn Hiếu Nghĩa (Tổng Nghĩa) đã hiến đất xây nhà thờ hiện nay.
[12] Một trong năm gia đình ấy là gia đình ông Phêrô Nguyễn Văn Hiến, bố nuôi của ông Tổng Nghĩa.
[13] Nay là Giáo họ Cửa Cạn thuộc Giáo xứ Hiệp Nghĩa, hạt Hàm Thuận Nam, Giáo Phận Phan Thiết.
[14] x. Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn Bình Thuận, Nguyễn Đình Đầu, Tp.hcm, 1996, trg 59.
[15] x. Nam Kỳ Địa Phận, năm thứ 14, 1922, Sàigòn, trg 522.
[16] Bản dịch chữ Hán, lưu tại văn phòng Giáo xứ Tân Lý.
[17] Vua Thành Thái lên ngôi ngày 28 tháng 01 năm 1988, Thành Thái ngũ niên tức là năm 1893.
[18] x. 25 Năm Thành Lập Giáo Phận Phan Thiết, trg 95.
[19] Phần đất này do gia đình ông Phêrô Nguyễn Hiếu Nghĩa (Tổng Nghĩa) dâng cúng.
[20] x. Nam Kỳ Địa Phận, năm thứ 14, 1922, Sàigòn, trg 524.
[21] x. Giám Mục Người Nước Ngoài, Lê Ngọc Bích, Tôn Giáo, 2009, trg 106.
[22] x. Nam Kỳ Địa Phận, năm thứ 14, 1922, Sàigòn, trg 523.
[24] x. Kỷ Yếu Địa Phận Nha Trang, Sàigòn, 1971, trg 126.
[25] Cái chuông và Hào Quang chầu thánh thể hiện nay vẫn còn sử dụng.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
P. BÌNH TÂN - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623.843160 |
| Năm thành lập: |
|
(1885) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(4124) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH GIUSE (19-03)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ VINH TÂN
Sau Hiệp định Genève 20.07.1954 chia đôi đất nước, tháng 03.1955, Linh mục J.B. Trần Ngọc Thủy (1901-1973) đã đưa 32 gia đình gốc Tân Yên, Thanh Dạ thuộc Giáo hạt Thuận Nghĩa, Giáo Phận Vinh, Huyện Quỳnh Lưu, Tỉnh Nghệ An, đang tạm trú tại Phú Thọ Sài Gòn, đến Hàm Tân lập họ đạo đầu tiên tại Lagi với tên giao duyên là Vinh Tân (Giáo Phận Vinh, Hàm Tân).
Lagi-Hàm Tân đất rộng người thưa, cuộc sống dễ dàng, có ruộng có biển, nên giáo dân đến ngày càng đông làm thành Giáo xứ Vinh Tân với 03 giáo họ: Vinh Tân, Thanh Xuân và Vinh Thanh. Sau khi hai giáo họ trở thành Giáo xứ là Thanh Xuân (1960) và Vinh Thanh (1965), thì Vinh Tân vẫn còn là Giáo xứ lớn với 3105 người.
Từ ngày thành lập đến 1975, Giáo xứ đã được các Linh mục phục vụ như sau:
Linh mục Chánh xứ:
- Cha J.B. Trần Ngọc Thủy 1955-1965
- Cha Phêrô Nguyễn Văn Hảo 1965-1972
- Cha J.B. Cao Vĩnh Phan 1972-1975
Linh mục Phó xứ:
- Cha Giuse Nguyễn Trọng Báu 1957-1961
- Cha J.B. Trần Xuân Long 1959-1968
- Cha Giuse Đặng Đình Hoàng 1961-1964
- Cha F.X Lê Quang Diễn 1964-1965
- Cha Phêrô Dương Đình Thiện 1971-1972
- Cha Phêrô Nguyễn Hữu Nhường 1972-1975
Về cở sở vật chất, năm 1957, Giáo xứ đã thay thế nhà thờ tạm đầu tiên lợp lá bằng nhà thờ lợp ngói, với diện tích 40m x 96m, đến năm 1959 thì thay vách ván bằng tường xây, và đến năm 1962, xây lại mặt tiền nhà thờ với tượng thánh Bổn mạng Phêrô ở giữa.
Về giáo dục, Giáo xứ đã mua đất (1ha) lập trường Vinh Tân. Từ đầu năm 1956-1957, trường Vinh Tân đã có cấp II, năm 1966 trường có cấp III. Trường Trung – Tiểu học Vinh Tân là nơi đào tạo văn hóa và ươm mầm đức tin cho hầu hết con em các xứ đạo vùng Hàm Tân – Bình Tuy từ năm 1955-1975. Năm 1976, Nhà Nước đã tiếp quản trường Vinh Tân và làm cơ sở giáo dục cho Thị Trấn Lagi.
Từ năm 1975, Giáo xứ đã được các Linh mục phục vụ:
Linh mục Chánh xứ:
- Cha F.X Phạm Quyền 1975-1990
- Cha Phêrô Phạm Tiến Hành 1990-1999
- Cha Giuse Bùi Ngọc Báu 1999 ………… ([1])
Linh mục Phó xứ:
- Cha Giuse Hồ Văn Thiện 1994-1997
- Cha Giuse Nguyễn Đức Khẩn 1998 …………
Cùng với sự cộng tác của một cộng đoàn Nữ tu thuộc Hội Dòng MTG. Phan Thiết và Hội Đồng Mục Vụ đương nhiệm gồ 21 người.
Hiện nay, Giáo xứ gồm 04 Giáo họ với 4289 người trong 920 hộ gia đình, và sinh hoạt trong các đoàn thể như Phụ Huynh, Bà Mẹ Công Giáo, Giới Trẻ, Thiếu Niên và Lêgiô Marie.
Với số giáo dân ngày càng đông, Thánh đường cũ làm năm 1957 không đủ chỗ cho việc phụng vụ, nên Giáo xứ đã làm Nhà thờ mới. Ngày 17.06.1994, Lễ Đặt Viên Đá đầu tiên, sau 13 tháng 09 ngày, ngày 26.07.1995, Thánh đường đã được khánh thành và cung hiến, với diện tích 1000 m2 (50mx20m), nóc cao 18m, tháp chuông 25m.
Qua 45 năm thành lập, Giáo xứ đã đóng góp cho Giáo hội một số cán bộ truyền giáo: 12 Linh mục (05 Lm. Triều; 07 Lm. Dòng); 06 thầy Đại Chủng Sinh; 01 Thầy Dòng; 08 Nữ tu.
Bề ngoài, Vinh Tân có vẻ như là một Giáo xứ sầm uất phồn vinh, nhưng thật ra vẫn còn nhiều gia đình khó khăn túng thiếu. Giáo dân làm đủ nghề, nhưng nghề chính vẫn là nghề biển với khoảng 110 chiếc ghe lớn nhỏ (trong tổng số 1000 chiếc của Thị Trấn Lagi). Tinh thần sống đạo và việc rao giảng Tin Mừng rất khởi sắc. Hằng năm số tân tòng khoảng từ 20-30 người.
Về văn hóa, ngày nay Vinh Tân đã có nhiều sinh viên tốt nghiệp Đại học. Trình độ văn hóa trung bình của người giáo dân khoảng cấp II, vì trước đây giáo dân rất ít để ý đến việc học của con cái, hằng năm Giáo xứ đều có học bổng cho các em nghèo khó, cũng như quỹ xóa đói giảm nghèo cho những gia đình khó khăn.
Là Giáo xứ Mẹ, Giáo xứ lớn vùng Hàm Tân, Vinh Tân luôn luôn phấn đấu để bản thân ngày càng phồn vinh về kinh tế, có nếp sống văn hóa gương mẫu, đức tin ngày càng được củng cố, giáo dân Vinh Tân muốn là men, là muối, là ánh sáng cho những người chung quanh.
Có như thế Vinh Tân mới cùng với các Giáo xứ bạn làm cho Giáo Phận Phan Thiết ngày càng vững mạnh.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
F. PHƯỚC HỘI - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 844134 |
| Năm thành lập: |
|
(1957) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(4389) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH PHÊRÔ (29/06)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ VINH THANH
Lịch sử:
Giáo xứ Vinh Thanh được hình thành do cao trào di cư năm 1954. Năm 1954, Cha già Thủy và cha già Bang đem một số giáo dân gốc Vinh đến vùng Lagi, Tỉnh Bình Thuận và lập 3 trại định cư: Vinh Tân, Vinh Thanh và Thanh Xuân. Sau đó, Cha già Bang thấy đất cát khó sống nên đem một số dân nhà nông lên Buôn Mê Thuột lập trại Trung Hòa. Số còn lại làm nghề biển lập thành một họ lẻ Vinh Thanh, thuộc xứ Vinh Tân.
Đến năm 1965, số giáo dân khá đông, 1200 nhân danh và có cơ sở đầy đủ nên Đức Cha Piquet Lợi đã cho thành lập Giáo xứ.
Các Linh mục phụ trách Giáo xứ:
- Phêrô Nguyễn Viết Khai 1965-1971
- F.X Trần Xuân Lại 03.1972-04.1972
- Malakia Dương Văn Minh 12.1973-01.1974
- Philipphê Lê Trọng Phan 1975-1994
- J.B. Trần Xuân Long 1994…………
Cơ sở vật chất:
Ngay từ khi thành lập, Giáo xứ đã có một nhà thờ xây (1963) và sau này được trùng tu (1991). Một trường học gồm 03 phòng, một nhà xứ lợp tole, một phòng hội (nay biến thành nhà kho), một công trường Anrê có đặt tượng Thánh Quan Thầy Xứ Anrê, một Đài Đức Mẹ ở họ Maria và một nghĩa trang. Năm 1996, Nhà xứ đã được xây lại hai tầng lầu bêtông kiên cố. Nhà trường cũng được lên lầu để có thêm phòng học.
Giáo xứ hiện có 01 Linh mục, 02 Tu sĩ nam, 05 Tu sĩ nữ và 06 Thỉnh sinh.
Giáo xứ đa số là đạo gốc, nên đời sống đức tin khá vững. Tuy nhiên cũng có một số liệt vào hạng khô đạo, một số lớn, nhất là những người cao tuổi, thường giữ đạo hơn là sống đạo.
Văn hóa:
Vì là dân biển và nông, lại nghèo nên trình độ văn hóa vào hạng Tiểu học. Tuy nhiên sau năm 1975, nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa trong đời sống hằng ngày, các bậc cha mẹ đã quan tâm nhiều hơn đến việc học của con cái vì vậy trình độ văn hóa ngày càng được nâng cao nhất là ở giới trẻ.
Nghề nông và nghề biển tùy thuộc nhiều vào may mắn, rủi ro và ngày càng khó làm ăn. Hàng năm Giáo xứ có lịch trình ủy lạo người nghèo và bệnh tật trong xứ vào dịp tết và các lễ lớn. Giáo xứ cũng rất lưu tâm giúp đỡ các học sinh nghèo.
Tông đồ và truyền giáo
Giáo xứ Vinh Thanh là một xứ không toàn tòng (trung bình một nhà đạo, hai nhà lương). Vì thế, việc truyền giáo là rất quan trọng và cần thiết. Trong xứ cũng đã lập được 08 đoàn thể và thiện hội để giúp việc xứ và lo việc truyền giáo. Tuy nhiên, việc truyền giáo vẫn còn gặp nhiều khó khăn vì định kiến và gương xấu. Hằng năm có chừng mươi người trở lại, nhưng đa phần là để lập gia đình.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
F. PHƯỚC LỘC - THỊ XÃ LA GI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 843682 |
| Năm thành lập: |
|
(1965) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(2651) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH ANRÊ (30/11)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ ĐỒNG TIẾN
Đồng Tiến, cái tên thật êm ã dễ nghe, nhưng lịch sử của nó thì không đơn giản. Trước năm 1960, Đồng Tiến chỉ là một vùng dân cư sống thưa thớt trên cát trắng, và chỉ có một cụm gia đình công giáo thuộc về Giáo xứ Tân Lập. Cơ sở vật chất lúc đó rất sơ sài, mấy nhà trường nhỏ che vách ván, lợp tole. Đến năm 1967, Cha Giuse Đặng Đình Hoàng đã quy tụ giáo dân ở rải rác chung quanh để lập thành xứ đạo, và khởi công xây cất ngôi Thánh Đường như ngày nay.
Năm 1968, Giáo xứ được chính thức thành lập trên một địa giới hơn một cây số vuông, bao gồm các cơ sở hành chánh, quân sự, các khu gia cư, với tổng số dân trên 3000, trong đó công giáo khoảng trên dưới 1000 người. Đến ngày 22.9.1969, ngôi Thánh Đường hiện nay đã được khánh thành với chiều dài 30m, rộng 12m, cùng với một tháp chuông cao 21m dưới quyền chủ tọa của 2 vị Giám Mục: Đức Cha Giuse Lê Văn An và Đức Cha F.X Nguyễn Văn Thuận, Giám Mục Giáo Phận Nha Trang.
Năm 1969, một ngôi trường đã được hình thành với 08 lớp tiểu học, thu nhận trên 400 học sinh dạy miễn phí. Đến năm 1972, số học sinh lên tới 700 em. Song song với vệc phổ cập văn hóa, một lớp hướng nghiệp cắt may đã được mở miễn phí. Cuối năm 1972, lớp may này đã mở được hai khóa và có trên 500 học viên được cấp bằng tốt nghiệp. Không dừng lại ở đó, một dãy trường lầu đã hoàn thành vào năm 1973 với chiều dài 40m, rộng 12m gồm 13 phòng học và ở. Từ đây với nhiều lớp Ký nhi viện với đầy đủ tiện nghi được ra đời. Số giáo dân trước năm 1975 là 1.160 người (156 gia đình).
Hiện nay, là 1.436 người (322 gia đình), hầu hết nằm trong các đoàn thể: Gia Trưởng, Bà Mẹ Công Giáo, Legio, Têrêxa, Thanh Niên và Thiếu Nhi.
Từ năm 1975, Giáo xứ đã được 04 Linh mục coi sóc:
- Cha J.B Trần Xuân Long 1975-1994
- Cha Giacôbê Lê Đức Trung 1994-1998
- Cha Phêrô Hồ Văn Hưởng 1996-1999
- Cha Phêrô Dương Đình Thiện 1999…………
Cùng cộng tác với Cha xứ có một cộng đoàn Nữ tu thuộc Hội Dòng MTG. Nha Trang và 15 vị trong Hội Đồng Mục Vụ. Hơn nữa, Giáo xứ đã đóng góp cho Giáo Hội một Thầy (1996), 02 Nữ tu và 02 Thỉnh sinh.
Năm 1996, nhờ sự nỗ lực của Cha Giacôbê Lê Đức Trung và giáo dân trong xứ cùng với ân nhân ngoài nước, ngôi Thánh Đường đã được đại tu gian cung thánh, xây mới Đài Đức Mẹ, nhất là vào năm 1999, với sự quan tâm của Đức Giám Mục Giáo Phận, sự nỗ lực của Cha Phêrô Hồ Văn Hưởng cùng bà con giáo dân, Giáo xứ đã trùng tu dãy lầu nhà trường, xây mới hòn non bộ, chỉnh trang khuôn viên Thánh Đường, xây mới 300m hàng rào nghĩa trang.
Điểm tâm đắc của Giáo xứ là “Chương Trình Mái Am Tình Thương” của cộng đoàn MTG. Nha Trang, đã thể hiện rõ nét sự đùm bọc chia sẻ, bác ái với những người anh em nghèo khổ, neo đơn không phân biệt lương giáo hay địa phương, tính đến năm 2000 đã làm được 189 ngôi nhà tình thương.
Để phát huy truyền thống của Cố Linh mục Giuse Đặng Đình Hoàng, Giáo xứ đã hình thành một lớp cắt may miễn phí. Từ năm 1991 đến nay đã tổ chức được 08 khóa, mỗi khóa khoảng 30 em học viên tham gia, đối tượng là con em nhà nghèo trong toàn Giáo hạt, không phân biệt lương giáo.
Về mặt văn hóa, trình độ trung bình của giáo dân là cấp II. Cộng đoàn Nữ tu đã xây dựng và dạy một lớp học tình thương khoảng 35 em. Năm 1994 – 1997, Giáo xứ tổ chức ký túc xá cho các em ở các xứ xa đến học.
Hướng về tương lai, Giáo xứ cố gắng tổ chức lại Ký túc xá để giúp các em ở xa trường có điều kiện đi học, cũng như để phát triển ơn gọi. Phối hợp với cộng đoàn MTG. Nha Trang làm tốt hơn nữa chương trình “Mái Am Tình Thương” và tập trung truyền giáo để đem Tin Mừng Đức Kitô đến cho mọi người trong Thiên Niên Kỷ mới.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
F. TÂN AN - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 870464 |
| Năm thành lập: |
|
(1968) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1406) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VN (24/11)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ PHƯỚC AN
Năm 1965, cha Gian Baotixita Trần Ngọc Thủy dẫn dắt 1 số bà con giáo dân di cư gốc Vinh đến thành lập giáo xứ Phước An. Đa số gốc Lưu Mỹ, còn lại là Yên Đại, Bột Đồ, Quy Hậu, Ba Làng... nghề chủ yếu là làm nông.
Ban đầu có khoảng 200 gia đình với gần 1000 giáo dân, do cha Giuse Đặng Đình Hoàng coi sóc (1965-1968), tiếp theo là các cha Giuse Nguyễn Quốc Công (1968-1974), cha Phêrô Hoàng Thái Ân (1969-1972), cha F.A Nguyễn Cao Cầu (1972-1974), cha Fx. Lê Quang Diễn (1974-1976). Buổi đầu với muôn vàn khó khăn, nhưng giáo xứ đã xây dựng được một ngôi thánh đường (1968) và một nhà xứ (1970). Các hội đoàn : Legio Mariae, thanh niên, thiếu nhi Thánh Thể... được thành lập và sinh hoạt đều đặn, cùng với ơn gọi được phát triển mạnh trong giai đoạn này.
Sau năm 1975, giáo xứ đã trải qua những ngày tháng khó khăn, thử thách! Kể từ năm 1976, giáo xứ không có linh mục coi sóc. Mọi sinh hoạt của giáo xứ trầm hẳn xuống. Từ năm 1978, một số gia đình đi kinh tế mới Bắc Ruộng và năm 1980, một số khác vào Xuân Sơn - Bà Rịa để lập nghiệp. Cơ sở vật chất dần dần xuống cấp, đường xá, cầu cống hư hỏng nặng. May mắn là trong giai đoạn này giáo xứ còn có 2 thầy để duy trì những sinh hoạt trong giáo xứ.
Ngày 26.11.1992, cha Phanxicô Assisi Nguyễn Đức Quang về làm quản xứ, giáo xứ đón nhận vị mục tử mới sau hơn 16 năm thiếu bóng chủ chăn. Bằng sự năng nỗ và hoạt động không mệt mỏi, ngài đã cùng bà con nỗ lực xây dựng và tái thiết giáo xứ : hoàn thiện đường xá, cầu cống, xây mới nhà xứ, trường mẫu giáo, trùng tu nhà thờ, nâng cao đời sống kinh tế của bà con bằng việc áp dụng kỹ thuật mới vào trong nông nghiệp.
Các hội đoàn trong xứ : các Bà Mẹ Công Giáo, Têrêxa, Legio, gia trưởng, thanh niên, ... được củng cố và phát triển. Dân trí được nâng cao. Một số bà con lương dân trong xứ cũng đã gia nhập vào cộng đoàn giáo xứ. Tuy vậy, công việc truyền giáo chưa được phát triển lắm. Về mặt công tác xã hội, giáo xứ đặc biệt lưu ý đến một số bà con có hoàn cảnh neo đơn, khó khăn, và đã xây dựng được một số "nhà tình thương".
Giáo xứ hiện do cha Phêrô Hồ Văn Hưởng coi sóc. Cùng cộng tác với ngài có các chị thuộc dòng Mến Thánh Giá Nha Trang và Hội đồng Mục vụ 20 người. Số giáo dân hiện nay khoảng 1400. Tuy là một xứ nhỏ, nhưng giáo xứ cũng đã đóng góp cho Giáo Hội 5 linh mục, 3 thầy, 5 nữ tu và 14 tu sinh.
Hướng về tương lai, cha xứ cùng bà con giáo dân đang nỗ lực để hoàn thiện cơ sở vật chất. Trước mắt là xây dựng tháp chuông nhà thờ, khuyên khích việc học hành của con em trong xứ, cỗ vũ ơn thiên triệu, khắc phục hậu quả của cơn lũ quét 29.07.1999, ổn định đời sống kinh tế.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
F. TÂN AN - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 870891 |
| Năm thành lập: |
|
(1965) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1440) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI (15/08)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ BÌNH AN
Giáo xứ Bình An được hình thành vào năm 1961, khi Cha Trần Chính Cư giới thiệu khoảng 40 gia đình công giáo di cư, gốc Quảng Ninh (Móng cái, Trà Cổ, Đầm Hà) từ Phan Rí về lập nghiệp tại khu rừng dọc theo liên tỉnh lộ 23, nay là đường 709. Sau này, nhiều gia đình từ các Giáo xứ Tân Lập, Tân Lý, Hiệp Nghĩa, đặc biệt là năm 1970, hơn 200 gia đình, trong cũng như ngoài đạo từ Campuchia đến định cư.
Từ khi hình thành cho đến khi thành lập Giáo xứ (năm 1969 với vọn vẹn 350 giáo dân) cho đến 1969 giáo dân liên tục được các Linh mục láng giềng phục vụ:
- Cha Moussay, Hội Thừa Sai Paris 1961-1963
- Cha Vũ Đình Hoạt 1963
- Cha Delsuc, Hội Thừa Sai Paris 1963-1964
- Cha Nguyễn Văn Hảo 1964
- Cha Cao Vĩnh Phan 1964-1968
- Cha Hoàng Thái An 1968-1969
Năm 1969, Giáo xứ được thành lập
- Cha Nguyễn Quốc Công 1969-1974 (là Chánh xứ tiên khởi)
- Cha Nguyễn Cao Cầu 1974-1975
- Cha Lê Đức Trung 1975-1994
- Cha Nguyễn Đình Cẩm 1994 …………
Về cơ sở vật chất, Cha Moussay và giáo dân đã dựng được một ngôi nhà nguyện nho nhỏ. Năm 1965, Cha Cao Vĩnh Phan động viên giáo dân xây dựng một nhà nguyện kiên cố (26m x 9m) vẫn tồn tại cho đến bây giờ. Từ năm 1969, Cha Nguyễn Quốc Công đã xây dựng một Ký nhi viện khang trang, phục vụ con em ở địa phương, không phân biệt tôn giáo. Từ 1989, Cha Lê Đức Trung đã xây nhà xứ, có lầu, phòng ăn, hai phòng giáo lý, một tháp chuông, tượng đài Đức Mẹ mặc quốc phục, gọi là Mẹ Bình An. Cha Nguyễn Đình Cẩm nới rộng nhà xứ, xây bức tường thành với chu vi gần 700 m2, phục hồi Ký nhi viện đã sụp đổ theo thời gian do Cha Nguyễn Quốc Công để lại, làm thành 04 lớp mẫu giáo.
Về đời sống đạo, vì lâu ngày không có Cha xứ hiện diện thường xuyên, đặc biệt đối với bà con Việt Kiều Campuchia, hiếm khi được gặp linh mục tại Campuchia, nên tình trạng “rối” gây khá nhiều xáo trộn, và còn vương vấn cho đến bây giờ.
Giáo dân không ngừng tăng do nhiều bà con từ Lagi về phá hoang sinh sống, từ bên kia sông Bến Hải vào lập nghiệp. Hiện nay, số giáo dân là 1814 người trên 3900 dân số. Năm 1994 đến nay, Cha Nguyễn Đình Cẩm kế thừa mục vụ của Cha Lê Đức Trung, với sự giúp đỡ của Hội Đồng Mục Vụ gồm 24 người. Giáo xứ cũng đã cống hiến cho Giáo Hội 02 Nữ tu (Dòng MTG. Phan Thiết, Dòng Phaolô thành Chartes). Dù còn nhiều khó khăn, các Gia Trưởng, các Bà Mẹ Công Giáo, Lêgiô Marie, Thanh thiếu niên, Têrêxa luôn phục vụ bà con, không phân biệt tín ngưỡng. Nhờ sự hòa đồng này khiến có trên 100 người xin nhập đạo, đa số để lập gia đình.
Về công tác xã hội, giáo dân đã là nòng cốt trong việc xây đắp gần 2000m đường chỉ có đổ sỏi trên đất cát khô cằn, nhưng chừng đó thấm vào đâu. Giáo xứ đặc biệt quan tâm đến các trường hợp neo đơn, tuổi tác, bệnh hoạn, cháy nhà, lụt lội. Riêng về văn hóa, dù đã có nhiều nỗ lực mở lớp tình thương, giúp tìm kiếm học bổng… trình độ giáo dân vẫn ở mức tiểu học.
Tương lai còn đòi hỏi nhiều phấn đấu: về kinh tế, Bình An thuộc vùng nông nghiệp, mà lại nơi cát trắng bạc màu, thủy lợi là nước trời, thế mà mưa đến lại có những vùng đất bị úng. Ngăn đập điều hòa nước là cấp bách, nhưng còn nhiều ý kiến và quyền lợi cá nhân đối chọi nhau. Ước mong khi thủy lợi và điện gia dụng được giải quyết, tương lai sẽ sáng sủa hơn. Về văn hóa còn phải cố gắng nhiều. Còn nữa, giáo dân ai cũng ước mong có một Thánh đường mới để thay thế Nhà nguyện cũ từ năm 1965 đang có nguy cơ sập đổ. Giáo xứ đang ráo riết động viên những giáo dân có chút vốn học vấn và tinh thần tông đồ tham gia công tác truyền giáo, bằng đời sống cá nhân và đoàn thể, để làm chứng cho Tin Mừng.
Ngoài ra, Giáo xứ Bình An còn phụ trách giáo họ: Đá dựng và Đức Bà. Mỗi giáo họ đều có nhà thờ và cha xứ đến dâng Thánh lễ cho giáo dân các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
TÂN BÌNH - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 870864 |
| Năm thành lập: |
|
(1969) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(2100) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH ANTÔN PAĐUA (13/06)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ HIỆP AN
Giáo xứ Hiệp An được thành lập vào tháng 02/1962 do Cha P. Gérard Moussay. Lúc đó, miền đất này chỉ là cánh rừng xanh mênh mông rậm rạp, nhiều thú dữ! Người địa phương còn gọi nơi này là “Bàu Dòi”.
Hiệp An khởi đầu chỉ có 07 gia đình công giáo, sống chung với khoảng 30 gia đình người địa phương và người Chàm. Ít lâu sau nhờ lời kêu gọi của Cha Moussay, nhiều người thuộc Giáo xứ Vinh Thủy, Phan Thiết hưởng ứng đến đây lập nghiệp, đa số gốc Quảng Bình, số khác thuộc Nghệ An, Hà Tĩnh.
Số giáo dân năm 1964 là 150 người, được tăng lên vào năm 1975 (800 người).
Từ ngày thành lập, Giáo xứ luôn có quý Cha phục vụ:
- Cha P. Gérard Moussay 1962-1964
- Cha J.B. Cao Vĩnh Phan 1964-1967
- Và giai đoạn sau có các Cha ở Tiểu Chủng Viện Tinh Hoa đến quản xứ 1968-1972
- Cha Phêrô Hoàng Thái An 1967-1968
- Cha Phêrô Dương Đình Thiện 1972-1999
Từ ngày thành lập, Giáo xứ đã có ngôi nhà thờ tạm, thô sơ, lợp tôn. Năm 1965, xây lại ngôi nhà thờ khác kiên cố hơn, lợp ngói và một nhà xứ khá rộng.
Còn đời sống đức tin, đa số giáo dân là đạo gốc, nên đời sống đạo ổn định, tốt lành, gây ảnh hưởng nhiều trong việc truyền giáo, nhờ đó lôi cuối được một số anh chị em lương dân.
Sau năm 1975, vì kinh tế khó khăn, khoảng 4.000 người từ các nơi Nghệ An, Quảng Bình, Hà Tĩnh và Thanh Hóa đến đây lập nghiệp. Do vậy, số giáo dân hiện nay (năm 2000) là 4.884 người, đa số tham gia sinh hoạt trong các đoàn thể: Gia Trưởng, BMCG, Thanh Niên, Thiếu Nhi, Giáo Lý Viên, Legio, Têrêxa, Carmêlô… dưới sự hướng dẫn của Cha J.B. Trần Văn Thuyết, quản xứ từ ngày 20.10.1999, cùng với sự cộng tác của Hội Đồng Mục Vụ hơn 40 vị.
Về cơ sở vật chất, vào năm 1994, Giáo xứ đã xây dựng được ngôi thánh đường mới rộng rãi, khang trang trên nền nhà xứ cũ; còn ngôi nhà thờ cũ được sửa chữa thành nhà xứ. Ngoài ra, Giáo xứ còn có 04 Nhà nguyện: Tinh Hoa (có cộng đoàn Nữ tu dòng MTG. Phan Thiết phục vụ), Thánh Gia, Tân Vinh, Truyền Tin.
Đời sống đạo ngày càng phát triển. Tuy nhiên, việc quy tụ sinh hoạt các đoàn thể còn khó khăn vì đây là Giáo xứ vùng xa, địa bàn rộng rãi, các gia đình ở rải rác, đường đi lại phức tạp.
Riêng với trình độ học vấn, thường chỉ học hết cấp I. Số học sinh cấp II, III nhiều em bỏ dở vì trường xa.
Hướng về tương lai, Giáo xứ đang phát triển thêm các cơ sở: xây hội quán, phòng học giáo lý, chỉnh đốn khuôn viên Thánh Đường, nâng cao trình độ dân trí, động viên các em tới trường học hết cấp II, III, giúp đỡ người nghèo, và cuối cùng, truyền giáo cho anh chị em lương dân.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
XÃ TÂN TIẾN - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 874564 |
| Năm thành lập: |
|
(1963) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(2100) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH PHÊRÔ (29/06)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ TÂN TẠO
Giáo xứ Tân Tạo được hình thành khoảng giữa năm 1957, cùng với sự ra đời 1 khu định cư mới của tỉnh Bình Tuy. Đa số dân lúc đầu có gốc địa phận Vinh, từ các trại định cư Bình giã và Phan Thiết về đây lập nghiệp, dưới sự lãnh đạo của Cha J.B. Trần Ngọc Thủy và Cha Giuse Nguyễn Trọng Báu.
Năm 1957, với 36 gia đình và đến năm 1959, Cha Trần Chính Cư cùng với 40 gia đình gốc địa phận Vinh từ trại Lương Sơn, Nha Trang vào lập nghiệp, đã nâng tổng số gia đình lên 76. Từ khi thành lập cho đến năm 1975, Giáo xứ luôn có các linh mục phục vụ: Cha J.B. Trần Ngọc Thủy (1957-1960 và 1968-1970), Cha Giuse Trần Chính Cư (1961-1965), Cha Vincente Nguyễn Đạo Quán (1966-1968), Cha Philiphê Lê Trọng Phan (1972), Cha Phêrô Lê Trọng Nghĩa (1972-1974), Cha Phêrô Trần Minh Trương (1974-1997). Từ 28-02-1997 đến nay là Cha Giuse Hồ Văn Thiện.
Về cơ sở vật chất, nhà nguyện đầu tiên được xây dựng lên bằng cây rừng, lợp lá vào năm 1957, đến năm 1965, đã xây dựng thành nhà thờ sườn gỗ, vách xây lợp ngói và1 nhà xứ; năm 1968, xây thêm 1 hội trường, năm 1970 nối rộng thêm nhà thờ và xây tháp mặt tiền nhà thờ.
Về đời sống đức tin, vì đa số giáo dân là đạo gốc, nên công việc truyền giáo và đời sống đạo đức phát triển mạnh.
Hiện nay, số gia đình công giáo đã lên đến 367, với 1822 giáo dân, tất cả đều tham gia sinh hoạt trong các hội đoàn: Gia trưởng, Thanh niên, Thiếu niên, các Bà Mẹ Công Giáo và Lêgiô. Dưới sự hướng dẫn của quý Cha, cùng với sự cộng tác của hội dòng MTG. Phan Thiết và Hội Đồng Mục Vụ gồm 18 người. Giáo xứ đã đóng góp cho Giáo Hội 2 linh mục, 15 tu sĩ, 6 chủng sinh.
Từ năm 1992, Cha Phêrô Trần Minh Trương đã phát động phong trào tiết kiệm để chuẩn bị xây dựng nhà Chúa. Đến tháng 2/1997, Cha Giuse Hồ Văn Thiện về nhận xứ, ngài đã bắt đầu khởi công xây dựng ngôi thánh đường mới, khang trang, đẹp đẽ và 1 nhà xứ thoáng mát, và đến cuối năm 1999 lại xây thêm 1 hội trường 4 phòng.
Riêng về mặt văn hóa, hiện nay không còn trường hợp nào mù chữ. Giáo xứ thường xuyên quan tâm chăm sóc các gia đình nghèo, neo đơn, bệnh hoạn. Năm 1999, Giáo xứ đã đổ sỏi được các con đường trong làng. Là một Giáo xứ thuộc vùng cát trắng bạc màu, kinh tế gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên, với tinh thần đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau trong công ăn việc làm, Giáo xứ Tân Tạo hy vọng sẽ khá lên trong tương lai.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
F, TÂN AN - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 870663 |
| Năm thành lập: |
|
(1957) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1822) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI (15/08)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ TÂN LẬP
Cuối năm 1958, một số gia đình công giáo gốc Đầm Hà, Trà Cổ (Giáo Phận Hải Phòng) và gốc Nghệ An (Giáo Phận Vinh), di cư đến lập trại định cư Xuyên Mộc dưới sự bảo trợ của Cha J.B. Trần Ngọc Thủy, chính xứ Vinh Tân. Tân lập được cất lên hàng Giáo xứ ngày 05.01.1960, chính là ngày Đức Giám Mục Giáo phận Nha Trang Marcel Piquet cử cha Giuse Trần Chính Cư về làm chính xứ.
Lúc đầu Giáo xứ gồm ba họ: Xuyên Mộc (nay là Giáo xứ Tân Lập) là họ chính, Cây số 05 (nay là Giáo xứ Tân Tạo) và Công Chánh (nay là Giáo xứ Đồng Tiến) là hai họ lẻ. Họ chính Tân Lập lúc đó khoảng hơn 50 gia đình, với hơn 400 giáo dân. Dần dần dân kéo về một tăng thêm. Sau khi đã cắt hai xứ Tân Tạo và Đồng Tiến, năm 1972, Tân Lập có 165 gia đình với 1.023 giáo dân. Ngày 14.7.1973, Cha Giuse Bùi Ngọc Báu về thay Cha già Giuse Trần Chính Cư.
Nhà thờ và nhà xứ đầu tiên được xây dựng vào năm 1959 bằng vật liệu cây, lá, tre, mây sẵn có. Năm 1961, Nhà thờ làm lại với vật liệu nhẹ, nền gạch, mái tôn, vách ván. Nhà xứ được xây bằng gạch đá kiên cố hơn. Năm 1968, trường Trung Học Hy Vọng ra đời với 04 lớp học cho cấp II. Năm 1974, Cha Giuse Bùi Ngọc Báu xây dựng lại Nhà thờ đang có hiện nay.
Giáo dân đa số là đạo gốc, nên đời sống đức tin tương đối vững chắc. Tuy nhiên, vì là di dân thuộc nhiều thành phần, nhiều địa phương khác nhau nên có nhiều dị biệt. Nhưng nhờ ơn Chúa và có sự chỉ dẫn của các Cha nên vượt qua được các khó khăn, bà con biết đoàn kết, yêu thương nhau, gây ảnh hưởng tốt đến bà con lương dân chung quanh.
Hiện nay Giáo xứ gồm 362 gia đình với 1.701 giáo dân, các Hội đoàn gồm: Bà Mẹ Công Giáo, Lêgiô Marie, Têrêxa, Giáo Lý Viên, Gia Trưởng, Thanh Niên và Thiếu Niên. Dưới sự hướng dẫn của Cha Phêrô Phạm Tiến Hành vừa đảm nhiệm Linh mục Chánh xứ ngày 26.10.1999, cùng cộng tác với ngài có Hội Đồng Mục Vụ (26 người) gồm Ban điều hành của 4 giáo họ và Ban trị sự các đoàn thể. Ngoài ra, trong Giáo xứ còn có 02 cộng đoàn Nữ tu Dòng MTG. Phan Thiết: một phụ trách trạm xá và trường mẫu giáo (14 chị), một phụ trách trường câm điếc (05 chị). Giáo xứ đã đóng góp cho Giáo Hội 03 Linh mục, 03 Chủng sinh, và 22 Nữ tu.
Về cơ sở vật chất, sau năm 1975, tuy hoàn cảnh khó khăn, nhưng Giáo xứ cũng đã cố gắng xây dựng được một số cơ sở: Hội trường (1997), sửa trường Hy vọng làm nơi dạy giáo lý (1996), xây trường Mẫu giáo gồm 08 phòng (1996), làm trường Câm Điếc do sửa lại nhà của Cha già Phượng (1998) và xây mới một dãy 05 phòng (1999). Ngoài ra còn xây dựng công viên Đài Đức Mẹ, Thánh Quan Thầy Antôn (1997).
Về đời sống tinh thần, sau năm 1975, giáo dân càng đoàn kết yêu thương nhau, tích cực lao động sản xuất, cố gắng hòa đồng, tạo ấn tượng tốt với Chính Quyền và bà con lương dân. Việc truyền giáo gặp nhiều hạn chế, chỉ đưa được 22 người về với Giáo Hội.
Về văn hóa, đa số các bậc cha mẹ ý thức được tầm quan trọng của việc học nên con em trong xứ đa số đều được học hành đầy đủ. Hiện nay có hơn 70 người học trên cấp III. Trình độ văn hóa trung bình ở cấp II.
Đối với công tác xã hội, Giáo xứ đã xây dựng hỗ trợ đề thành hình trường Câm Điếc với 40 em khuyết tật đang được dạy dỗ. Giáo xứ cũng quan tâm đến những người nghèo khổ, bệnh tật, ốm đau, đặc biệt đối với lương dân.
Hướng về tương lai, Giáo xứ chủ trương khuyến khích bà con áp dụng kỷ thuật vào trong sản xuất, chuyển đổi giống thích hợp với đất khô cằn bạc màu. Phát triển chăn nuôi và tìm thêm nghề mới. Kết hợp công, nông, thương vì đất đai bạc màu và quá ít. Đặt nặng vấn đề xây dựng đời sống đức tin. Đưa đạo vào đời. Khuyến khích thanh thiếu niên cố gắng học hành, để khi ra đời có thể làm chứng nhân cho Tin Mừng. Gây phong trào đoàn kết lương giáo, đẩy mạnh công tác truyền giáo tại các điểm đã chọn.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
P. TÂN THIỆN - THỊ XÃ LAGI - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 870653 |
| Năm thành lập: |
|
(1960) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1669) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH ANTÔN PAĐUA (13/06)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ TIN MỪNG
Ngày 07.12.1973, đoàn xe đầu tiên của những người tỵ nạn chiến tranh gốc quận Cam Lộ, Quảng Trị rời Đà Nẵng vào định cư ở Hàm Tân, Bình Tuy. Ngay tối hôm đó, có điện thoại từ Tòa Tổng Giám Mục Huế nhắn Cha Đaminh Cẩm Nguyễn Đình Cẩm đang ở Sài Gòn về Bình Tuy gấp để đón một số giáo dân Công giáo trong đoàn xe vì không có linh mục nào đi theo.
Chiều ngày 8.12.1973, Cha Đaminh Cẩm Nguyễn Đình Cẩm đã đón đoàn xe tại nơi gọi là Động Đền, trên tỉnh lộ 23 (quốc lộ 55). Và thánh lễ đầu tiên được dâng tại Động Đền vào ngày Chúa Nhật 9.12.1973, Đức Giám Mục F.X. Nguyễn Văn Thuận đột xuất đến thăm trại tỵ nạn, đặt Cha Đaminh Cẩm làm chánh xứ với tên gọi là Tin Mừng – Phục Sinh. Sau đó, Ngài đem cha Đaminh Cẩm về Lagi giới thiệu cho Cha Hạt trưởng J.B. Lê Xuân Hoa.
Chúa Nhật 15.9.1974, Đức Giám Mục Nha Trang cử Cha Hạt J.B. Lê Xuân Hoa lên đặt viên đá đầu tiên cho nhà thờ Phục Sinh. Và sáng Chúa Nhật 8.12.1974, thánh lễ đầu tiên được cử hành ở nhà thờ này, tuy đang xây cất dở dang (năm 1999, nhà thờ được khánh thành).
Còn nhà thờ đầu tiên của Tin Mừng được làm bằng gỗ tròn, lợp lá kè. Sau ngày giải phóng mới làm lại và lợp tôn. Cũng sau ngày giải phóng 9 Nữ tu Thừa Sai Truyền giáo (nay là Dòng MTG. Phan Thiết) về giúp Giáo xứ: 5 chị ở Phục Sinh, 4 chị ở Tin Mừng.
Những đợt đi kinh tế mới đã làm giảm số giáo dân xuống còn khoảng 1000. Năm 1976, Cha Đaminh Cẩm Nguyễn Đình Cẩm vắng mặt. Bề trên địa phận đã sắp xếp nhờ Cha F.X. Nguyễn Văn Nam xuống giúp đỡ mục vụ. Cho đến năm 1981, Cha Đaminh Cẩm mới trở lại.
Ngày 11.6.1974, Cha J.B. Hoàng Thanh Huê đến thay Cha Đaminh Cẩm quản xứ. Còn Cha Đaminh Cẩm đến nhận xứ Bình An.
Giáo xứ hiện nay có 275 gia đình (1322 người), và đang trên đà phát triển về nhiều mặt.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
THÔN 5 - XÃ TÂN THIỆN - HÀM TÂN - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 870227 |
| Năm thành lập: |
|
(1973) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1500) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
CHÚA HÀI ĐỒNG (25/12)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ GIO LINH
Tên cũ của Giáo xứ Gio Linh là Quáng Ngang (tên của một Giáo xứ gần Bến Hải, Quảng Trị). Mùa “hè đỏ lửa” 1972, Linh mục Phaolô Trương Công Giáo theo Giáo xứ Quán Ngang (gồm các giáo họ: Nam Tây, An Hòa, Nam Đông, Vạn Kim Quảng Xá) vào tạm trú tại trại tị nạn Hòa Khánh, Đà Nẵng, và sau đó vào định cư ở Động Đền, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Tuy.
Năm 1974, Giáo xứ được thành lập lấy tên là Gio Linh (tên của một quận ở phía nam Bến Hải). Linh mục Phaolô Trương Công Giáo làm chánh xứ tiên khởi, Linh mục F.X. Nguyễn Văn Nam làm phó xứ, đặc trách tư thục Thanh-Linh. Quan thầy của Giáo xứ là Lễ Chúa Ba Ngôi. Lúc này giáo dân gần 4000 người. Sau giải phóng 30.04.1975, những đợt đi kinh tế mới làm số giáo dân giảm đi rất nhiều!
Năm 1983, Cha già Phaolô Trương Công Giáo xin Đức Giám Mục về hưu, Cha F.X. Nguyễn Văn Nam lên thay thế làm quản xứ từ năm 1983 đến năm 1994. Sau đó, Cha F.X. Nguyễn Văn Nam được bổ nhiệm làm chánh xứ Cù Mi, và thay ngài là Cha Philipphê Lê Trọng Phan (1994 đến nay).
Nhà thờ đầu tiên được xây dựng vào năm 1974, sửa chữa lại vào năm 1989-1992.
Sau khi Cha Philipphê Lê Trọng Phan về nhận xứ 2 tháng, giáo họ Phục Sinh (trước kia thuộc xứ Tin Mừng) được giao cho Giáo xứ. Năm 1999, nhà thờ Phục Sinh đã được Đức Giám Mục Giáo phận khánh thành. Giáo xứ còn một giáo họ nữa là Phước Sa. Giáo dân của Gio Linh hiện nay là 1200 người.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
THÔN 5 - XÃ SƠN MỸ - HÀM TÂN - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 870227 |
| Năm thành lập: |
|
(1974) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1462) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
LỄ CHÚA BA NGÔI (ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ CÙ MI
Giáo xứ Cù Mi hiện thuộc xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. Thoạt đầu có Cù Mi “Hộ” (giáo xứ) và Cù Mi “Cửa” (giáo họ ở Bình Châu). Giáo xứ Cù Mi do cha Huỳnh Công Ẩn thành lập năm 1885, thời Đức Cha Hân (Prancois Xavier Van Camelboke) cai quản địa phận Quy Nhơn. Giáo dân lúc đó gồm 8 gia đình từ Bình Định, Phú Yên, Nha Trang… Vì số giáo dân tăng thêm, nên cha Huỳnh Công An lập thêm làng Hàm Thắng (bây giờ là thôn 2, xã Tân Thắng). Quan thầy của Giáo xứ: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, mừng kính vào ngày 15-8 hằng năm.
Về cơ sở vật chất: có nhà thờ tạm, làm bằng vật liệu thô sơ. Sau đó cha Boivin làm nhà thờ bằng gỗ cho Cù Mi “Hộ” và Cù Mi “Cửa”.
Năm 1890, Cù Mi nhập địa phận Sài Gòn – cha Micae Giàu làm quản xứ. Năm 1934, xây nhà thờ có tháp cao 30m; nhà thờ này này bị đốt cháy vào năm 1947. Sau đó được cha Nhơn (Viot) tu bổ, đến năm 1965, bị bom tàn phá tất cả.
Cha Micae Giàu làm quản xứ 25 năm, ngài coi luôn giáo xứ Tân Lý. Ngoài nhà thờ tháp cao 30m, ngài còn xây nhà xứ, nhà trường, nhà các Nữ tu Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, tất cả đều bằng gỗ.
Từ năm 1885-1975, Cù Mi có 24 cha làm quản xứ, có 6 cha coi xứ từ 10 đến 25 năm: cha Guégnand, cha Lefèbvre, cha Tiên, cha Lễ.
Năm 1957, Cù Mi thuộc địa phận Nha Trang dưới thời Đức Cha Lợi (Piquet). Năm 1963, cha Vincente Nguyễn Đạo Quán làm quản xứ, ngài tiếp tục tu bổ nhà thờ, đã được cha Nhơn làm lại sau khi bị đốt. Ngài còn xây nhà xứ trên bằng gạch phía sau đài Đức Mẹ hiện tại. Sau đó, xây trường học và đặt tượng Mẹ trước nhà thờ.
Nhà thờ này lại bị bom phá sập tan tành vào năm 1965, giáo dân phải rời Cù Mi về tạm trú tại Tân An, phía sau Nhà thờ Đồng Tiến. Lúc này, số giáo dân ước chừng 1500 người. Có các hội đoàn: Lêgiô, con Đức Mẹ, Nghĩa binh Thánh Thể. Đời sống đạo phát triển khá mạnh.
Năm 1975, Cù Mi thuộc giáo phận Phan Thiết, dưới sự cai quản của Đức Cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi. Một biến cố đáng ghi nhớ vào sử Cù Mi: ngày 25-4-1975, sau buổi kinh sáng ngày Chúa Nhật, giáo dân Cù Mi (đang tạm trú tại Tân An, Bình Tuy) đã đón tiếp Đức Cha Nicolas đến thăm, trong lúc vắng cha quản xứ, vì cha Sáng (Roger Delsuc) đã mất vì bệnh ung thư. Cha J.B. Lê Xuân Hoa, Hạt trưởng, đưa Đức Cha đến bằng xe Honđa, ông Trùm Đông, Chủ tịch Hội Đồng Giáo xứ đại diện giáo dân mừng Đức Cha và phái đoàn tháp tùng.
Ngày 20-5-1975, cha J.B. Hoàng Thanh Huê, được bổ nhiệm làm quản xứ, ngài dời nhà thờ bằng gỗ, từ Tân An về làm nhà thờ tạm trên nền nhà thờ bị tàn phá.
Năm 1976-1978, xây dựng nhà thờ mới, lợp tôn, tường gạch, 12 cột tròn bằng gỗ. Làm nhà xứ phía sau nhà thờ, xây trường học, xây nhà cho cộng đoàn MTG. Phan Thiết.
Có các hội đoàn: Bà Mẹ Công Giáo, Legio, Thiếu nhi Thánh Thể, Têrêxa. Cha Huê rời Cù Mi, cha Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Nam thay thế, ngài xây đài Đức Mẹ, lễ đài, hội trường, nhà xứ mới. Đến tháng 10.1998, cha Giuse Phạm Thọ về làm phó xứ.
Từ năm 1975, ngoài 5 khu địa phương, giáo dân từ Bắc, Trung, Nam đến lập nghiệp, làm thành các giáo họ, mỗi giáo họ trên dưới 1000 người… giáo họ Antôn, Mân Côi, Phêrô đã có nhà nguyện từ những năm 1985-1997. Từ ngày 01.12.1999, giáo họ Giuse bắt đầu xây nhà nguyện mới, với diện tích 200 m2, do Tòa Giám Mục tài trợ và đã hoàn thành vào đầu tháng 05.2000.
Đa số giáo dân Cù Mi làm ruộng, làm rừng, làm biển, một số ít buôn bán nhỏ, và làm nghề thủ công. Tòa Giám Mục đã giúp xây 2 đập đưa nước vào tưới cho cánh đồng, để làm 2 vụ, có nơi được 3 vụ. Số giáo dân hiện nay trên 6000 người.
Về văn hóa: trước 1975, đa số mù chữ, số còn lại trình độ từ lớp 3 đến lớp 6,7. Từ năm 1990, số học sinh tăng nhiều. Niên khóa 1999-2000, cấp I: 1450 học sinh, cấp II: 570 học sinh, cấp III: 56 học sinh và 16 sinh viên đại học. Từ 1994, Giáo xứ đã có chừng 15-20 người xin theo đạo.
Hướng về tương lai: đẩy mạnh việc truyền giáo và tái truyền giáo cho những gia đình “nguội lạnh”, ước mong xây dựng một trạm phát thuốc miễn phí, mua xe làm xe cứu thương, để đưa người đau ốm và bị tai nạn đến bệnh viện. Ngoài ra, còn phải nâng cấp con đường chính, từ QL. 55 vào nhà thờ, vì thấp và thường bị ngập vào mùa mưa, và ước mơ lớn nhất của giáo dân là thấy ngôi nhà thờ mới được hình thành.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
XÃ TÂN THẮNG - HÀM TÂN - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 875041 |
| Năm thành lập: |
|
(1887) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(4481) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI (15/08)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ CHÂU THỦY
Giáo xứ Châu Thủy từ năm 1968-1975 là một địa điểm truyền giáo Đá Mài thuộc xã Bà Giêng (Tân Xuân), do cố linh mục J.B. Trần Ngọc Thủy, chánh xứ Tân Tạo sáng lập. Ngài đã xây một ngôi nhà nguyện 12m x 6m. Vào những ngày lễ lớn, các Nữ tu của Dòng MTG. Phan Thiết dẫn các em của cô nhi viện lên sinh hoạt, đọc kinh, cùng với sự cộng tác của các Đan sĩ Dòng Xitô Châu Thủy. Lúc bấy giờ họ đạo Châu Thủy chỉ có 1 gia đình công giáo và 3 gia đình chưa hoàn toàn công giáo.
Sau biến cố 1975, dân chúng từ các nơi đến lập nghiệp, số giáo dân tăng lên khoảng 50 gia đình, cùng với số tân tòng của họ đạo khoảng 100 gia đình. Năm 1976, Đức Cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi, Giám mục Giáo Phận đã ký văn thư nâng họ đạo Châu Thủy thành Giáo xứ.
Giáo xứ Châu Thủy được đặt dưới sự coi sóc của các Linh mục dòng Xitô Châu Thủy:
- Cha Malachia Dương Văn Minh 1973-1974
- Cha Gabriel Nguyễn Thái Sơn 1974-1975
- Cha Clemente Phạm Sĩ An 1976-1977
- Cha Grégoire Phan Thanh Quảng 1977-1992
- Cha J. Berchmans Nguyễn Văn Thảo 1993-1997
- Cha Barnabê Lê Xuân Anh 1997….
Cơ sở vật chất:
Một Nhà nguyện, một Trường học gồm 06 phòng, một Ký nhi viện do các cha dòng xây cất cho Giáo xứ và giao cho các Nữ tu dòng MTG. Phan Thiết điều khiển để nâng cao trình độ văn hóa cho con em trong xứ cũng như xã nhà. Số giáo dân mỗi ngày một tăng nhanh, nên năm 1992 Cha Nguyễn Văn Thảo, Bề trên Đan Viện Châu Thủy đã cho xây mới ngôi Nhà thờ, trùng tu một số phòng học giáo lý, xây thêm một nhà cho các Nữ tu ở. Ngoài ra Cha già cố J.B Nguyễn Văn Thảo còn xây được 14 căn nhà tình thương cho những gia đình nghèo và neo đơn (1997-1998). Năm 1999 trong trận lũ lụt 29.7, Đức Giám Mục Giáo Phận đã giúp xây dựng lại 14 căn nhà của giáo dân bị thiệt hại 100% và 40 gia đình được Đức Giám Mục nâng đỡ để tu bổ lại nhà cửa.
Số giáo dân hiện nay đã lên tới 1300 người. Các đoàn thể, Công Giáo Tiến Hành cũng được phát triển mạnh, Thiếu Nhi Thánh Thể, Liên Minh Thánh Tâm, Legio, Bà Mẹ Công Giáo, Têrêxa, Thanh Niên. Tất cả đặt dưới sự quản trị của linh mục quản xứ Barnabê Lê Xuân Anh cùng với sự cộng tác của Hội Đồng Mục Vụ gồm 20 thành viên, thêm vào đó là hai cộng đoàn của Hội Dòng MTG. Phan Thiết, một nhóm Thừa Sai Bác Ai phụ giúp về mặt xã hội, văn hóa và giáo lý. Các Nữ tu giúp dạy giáo lý vỡ lòng, thêm sức và kinh bổn cho thiếu nhi và dự tòng. Hằng năm, vào các dịp lễ lớn, Giáo xứ vui mừng được nhận thêm anh chị em gia nhập đạo, nhất là từ năm 1990 về sau. Nhờ sự hoạt động này mà từ 10 năm qua có khoảng 200 người được nhập đạo.
Giáo xứ cũng đã đóng góp cho Giáo Phận 2 Nữ tu Dòng MTG. Phan Thiết, 2 Nữ tu Dòng Trinh Vương Mân Côi và một Chủng Sinh.
Về văn hóa, trình độ trung bình của giáo dân chỉ ở cấp tiểu học. Giáo xứ có một trường tình thương xóa mù chữ, do các chị nhóm Thừa Sai Bác Ai phụ trách, một lớp mẫu giáo dân lập do các Nữ tu dòng MTG. Phan Thiết phụ trách.
Kết hợp với học đường và phụ huynh, Giáo xứ xin thêm học bổng để động viên và giúp đỡ con em trong Giáo xứ học tập tốt, trau dồi kiến thức cho con em trong Giáo xứ ngày một tăng lên.
Về đời sống kinh tế, Giáo xứ sống trong một vùng nông nghiệp, đất sản xuất đồi núi bạc màu, nên việc phát triển nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Do đó, Giáo xứ khuyến khích chăn nuôi đàn bò, các loại gia súc khác để phát triển kinh tế, khuyến khích lớp trẻ học các ngành nghề.
Giáo xứ luôn luôn tìm cách giúp đỡ những gia đình giáo dân còn đang đói nghèo, già cả, neo đơn, bệnh tật, để họ vượt cảnh nghèo.
Hướng về tương lai, Giáo xứ đang chú trọng huấn luyện cán bộ Giáo Lý viên, HĐMV, các đoàn thể luôn tích cực đẩy mạnh công tác truyền giáo, bằng đời sống chứng tá: sống bác ái yêu thương và khiêm tốn phục vụ trong tinh thần sám hối, canh tân hòa giải, trong Năm Đại Toàn Xá 2000.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
XÃ TÂN XUÂN - HÀM TÂN - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 870712 |
| Năm thành lập: |
|
(1976) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1293) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH GIOAN TẨY GIẢ (24/06)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ ĐÔNG HÀ
Sau biến cố đau thương của “Mùa hè đỏ lửa”, phần lớn giáo dân xứ Đông Hà, Quảng Trị, địa phận Huế, được cha J.B. Etcharren đưa vào xã Bà Giêng (nay xã Tân Xuân), Hàm Tân, Bình Tuy để an cư lạc nghiệp. Giáo xứ Đông Hà được hình thành từ đó (3-1974). Số giáo dân lúc bấy giờ khoảng 4000 người, có thể là đông nhất Hạt Hàm Tân?
Vừa định cư, Giáo xứ đã làm được ngôi nhà thờ tạm. Nhưng sau đó 5 tháng, vì quá gần đường, xe cộ rộn ràng qua lại, nên nhà thờ đã được dời vào phía trong khoảng 200m (chỗ hiện nay).
Cha J.B. Etcharren làm quản xứ 9 tháng thì được điều về Sài Gòn làm Bề Trên tỉnh Dòng Thừa Sai ở Việt Nam, cha phó Stêphanô Lê Công Mỹ thay ngài làm chánh xứ. Ngài đã dựng lại ngôi nhà thờ khá chắc chắn vào năm 1977.
Tuy mới định cư, nhưng sinh hoạt tôn giáo của Giáo xứ rất năng động, vì nhân sự nhiều, cán bộ có khả năng…
Sau năm 1975, 3 đợt đi kinh tế mới đã làm số giáo dân giảm sút nhanh chóng! Cho đến năm 1985, chỉ còn 189 người (44) gia đình! Gần 4 năm sau (1989), một số giáo dân ở Nghệ An (Phi Lộc) vào lập nghiệp. Con số này tăng nhanh, khi đập nước Tân Hà được xây dựng. Do đó, giáo dân bây giờ lên đến 852 người (168 gia đình).
Sau 16 năm làm quản xứ, cha Stêphanô Lê Công Mỹ được thuyên chuyển. Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, quản xứ Thánh Linh, đến quản nhiệm Giáo xứ từ ngày 16.09.1990. Trong thời gian này, ngài đã xây dựng đập nước Tân Hà. Sau 6 năm vắng bóng chủ chăn trực tiếp coi sóc, ngày 04.06.1996, Đức Giám Mục đã bổ nhiệm cha Phêrô Hoàng Vĩnh Linh đến đặc trách Giáo xứ, và ngày 07.05.1998, được đặt làm chánh xứ. Thời gian này, ngài xây mới ngôi thánh đường đã xuống cấp trầm trọng. Một nhà mẫu giáo và một nhà giáo lý 4 phòng cũng được tiếp tục xây dựng.
Nhờ ơn Chúa, cùng với sự cộng tác đắc lực của các chị Hội dòng Mến Thánh Giá Phan Thiết, nhóm Thiện Chí Thừa Sai, 17 anh chị em trong Hội Đồng Mục Vụ Giáo xứ và toàn thể giáo dân, Giáo xứ ngày một phát triển. Các hội đoàn Lêgiô, Têrêxa, Hội các Bà Mẹ, Thiếu nhi Thánh Thể rất nhiệt thành trong việc tự thánh hóa bản thân và rao truyền Tin Mừng cho anh chị em lương dân (xóm dâu tằm, dân tộc Raglai).
Tuy mới được thành lập, Lêgiô và Têrêxa giúp làm mới lại được 8 ngôi nhà cho người nghèo, neo đơn…
Giáo xứ đã đóng góp cho Giáo xứ được 1 linh mục (đang phục vụ tại Xuân Lộc), 1 tu sĩ dòng Đồng Công, 1 nữ tu dòng Clara và hy vọng còn được đóng góp nhiều hơn.
Về học vấn, tuy xứ đã cố gắng tìm kiếm được chút ít học bổng, nhưng xem ra không thấm vào đâu! Nhiều gia đình quá khó khăn, nên việc học của con em đành bỏ dở! Kinh tế thì ngày càng xuống dốc, nên việc học là mối lo lắng của toàn Giáo xứ. Hy vọng những dự án học bổng dài hạn được các cơ quan sớm chấp nhận, để việc học của con em trong Giáo xứ được nâng lên!
Trước mắt, Giáo xứ đang chuẩn bị cho những khóa huấn luyện cán bộ, đặc biệt là giáo lý viên, các hội đoàn, để mong rằng, trong những thập niên tới, Giáo xứ sẽ gặt hái nhiều thành quả tốt đẹp, không những về mặt thiêng liêng mà còn cả vật chất nữa? Mong thay?
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
XÃ TÂN HÀ - HÀM TÂN - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 877759 |
| Năm thành lập: |
|
(1974) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(825) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ (29/06)(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ THÁNH LINH
Giáo xứ Thánh Linh (tên cũ là Bồ Câu Trắng) gồm những người tỵ nạn chiến tranh từ Quảng Trị chạy đến Bình Tuy vào năm 1973. Ban đầu Giáo xứ có 2 đơn vị độc lập: Giáo xứ Phong Lĩnh khoảng 1500 người, gốc Đông Hà, Quảng Trị cùng với vị lãnh đạo tinh thần là cha Phạm Bá Viên; Cô nhi viện Bồ Câu Trắng cũng từ Đông Hà vào cuối năm 1973 do Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan hướng dẫn.
Cả 2 nơi chỉ có một ít cơ sở để tạm thời hoạt động: xứ Phong Lĩnh có một nhà nguyện nhỏ. Cô nhi viện đã xây được một trường trung học cấp II và cấp III (trường Đắc Lộ) vào năm 1974, để phục vụ tức thời cho trên 1000 học sinh lương giáo.
Sau năm 1975, vì cha xứ Phong Lĩnh đi tỵ nạn không về, nên cha Nguyễn Thanh Hoan, nguyên là giám đốc cô nhi viện Bồ Câu Trắng, quản nhiệm giáo xứ. Các sinh hoạt tôn giáo đều tập trung ở cô nhi viện.
Từ năm 1975-1978, ? giáo dân hưởng ứng phong trào đi kinh tế mới, nên số giáo dân giảm đi rất nhiều.
Năm 1978, cô nhi viện phải bàn giao lại cho Sở Thương Binh Xã Hội Thuận Hải, nên sinh hoạt tôn giáo phải dời về địa điểm hiện nay. Một nhà thờ tạm được dựng lên cấp tốc với vật liệu nhẹ, gom lại từ nhà nguyện Phong Lĩnh và cô nhi viện Bồ Câu Trắng.
Hiện nay, số giáo dân của Giáo xứ là 1152 người (217 gia đình). Có 5 giáo họ và Hội Đồng Mục Vụ gồm 16 người. Đoàn thể gồm có Lêgiô, Thiếu nhi Thánh Thể, các Bà Mẹ Công Giáo. Giáo xứ đóng góp cho Giáo hội 1 nữ tu dòng Chúa Quan Phòng, 6 tu sinh MTG. Phan Thiết, cùng với 1 cộng đoàn MTG. Phan Thiết đang phục vụ tại Giáo xứ.
Năm 1990, nhà thờ và nhà xứ được xây mới lại. Năm 1992, xây 2 lớp mẫu giáo và 1 nhà trẻ. Năm 1998-1999, mở rộng các cơ sở nhà xứ và xây thêm được 3 phòng giáo lý.
Để cổ vũ ơn gọi và trực tiếp loan báo Tin Mừng, trong giáo xứ còn có Tu hội Nữ Thừa Sai Bác Ai và 1 chi sở phục vụ người cùi dân tộc.
Về văn hóa, trình độ trung bình của người lớn ở mức Tiểu học. Các em đang tuổi đến trường đều đi học hết cấp I, 50% cấp II, 10% cấp III. Số vào đại học rất hiếm.
Hoạt động xã hội rất sôi nổi: xây dựng đập nước Tân Hà, săn sóc người cùi, phát triển vùng dân tộc, xây đường xá, cầu cống, xóa đói giảm nghèo, phát triển chăn nuôi và giải quyết đầu ra cho người sản xuất nông nghiệp, các trẻ em nghèo vẫn tiếp tục được giúp đỡ để có thể theo đuổi việc học.
Về xã hội, sẽ lập Trung tâm khuyết tật. Tổ chức nồi cháo cho bệnh nhân cô đơn ở bệnh viện Hàm Tân.
Về việc truyền giáo, sẽ dạy giáo lý cho khoảng 100 người dự tòng. Và trực tiếp đem Lời Chúa cho anh em lương dân.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
XÃ TÂN HÀ - HÀM TÂN - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 876693 |
| Năm thành lập: |
|
(1978) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(1162) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG(ngaylemung) |
|
|
|

GIÁO XỨ TÂN CHÂU
Giáo xứ Tân Châu quy tụ một số giáo dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, thuộc các Giáo xứ Trung Tín, Trung Thành, Trung Hậu, Trung Chánh, Long Giang, An Điềm, Mỹ Long, Tân Phước, Bình Liên Châu Ổ… cùng một ít giáo dân từ nơi khác đến.
Vì chiến tranh và đất đai khô cằn, các cha dòng Chúa Cứu Thế (Châu Xuân Báu và Hoàng Thanh Huê) đã đưa 235 gia đình thuộc các giáo xứ trên vào định cư ở mảnh đất hiện nay vào ngày 22.2.1973. Cũng năm đó, một ngôi nhà thờ tạm bằng gỗ lợp tôn (18,5m x 26m) được cha Châu Xuân Báu cho xây dựng. Sau giải phóng cha Châu Xuân Báu ra nước ngoài, cha Dominicô Đỗ Văn Thừa (DCCT) được Đức Giám Mục bổ nhiệm làm quản xứ Tân Châu. Các sinh hoạt tôn giáo từ 1975 – 1990 bị hạn chế, tuy nhiên cha xứ vẫn cố gắng củng cố đức tin giáo dân. Tháng 9.1990, vì tuổi già sức yếu và bệnh tật, cha xứ đã xin Đức Cha nghỉ hưu. Đức Cha đã gởi cha Stêphanô Lê Công Mỹ đến Tân Châu thay thế.
Từ năm 1990 đến nay, các sinh hoạt tôn giáo, kinh tế và xã hội được dễ dàng hơn, nên Giáo xứ Tân Châu đã và đang phát triển về nhiều mặt.
Tháng 11.1997, Giáo xứ đã khởi công xây dựng lại nhà thờ mới. Và ngày 10.6.1999, ĐGM Nicolas Huỳnh Văn Nghi đã đến dâng Thánh lễ Tạ Ơn và Cung Hiến cách long trọng. Giáo dân hiện nay là 2565 người (535 gia đình).
Vào năm 1990, một giáo họ của Giáo xứ được thành lập, lấy tên là giáo họ Mẹ Thiên Chúa. Và ngôi nhà nguyện rộng 300 m2 đã được khánh thành năm 1995. Giáo dân hiện nay là 1574 người.
Giáo họ Mẹ Thiên Chúa đang dần dần đi vào nề nếp (vì là dân tứ xứ đi kinh tế mới đến đây). Hy vọng mùa xuân sẽ chiếu soi nơi “đất lành chim đậu” này.
|
| Địa chỉ liên hệ: |
|
XÃ TÂN NGHĨA - HÀM TÂN - BÌNH THUẬN Điện thoại:0623. 876685 |
| Năm thành lập: |
|
(1973) |
| Số giáo dân hiện nay: |
|
(3788) |
| Bổn mạng và ngày lễ: |
|
ĐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP (15/08)(ngaylemung) |
|
|
|
|
|
|
|